Phát triển nhiên liệu sinh học tại Việt Nam: Bài học từ hình mẫu thành công của Brazil

Từ những kinh nghiệm thực tiễn của quốc gia được xem là hình mẫu hàng đầu thế giới về nhiên liệu sinh học, Ngài Marco Farani - Đại sứ Brazil tại Việt Nam cho rằng, Việt Nam có nhiều cơ hội để xây dựng một ngành công nghiệp ethanol bền vững và hiệu quả.

Trong bối cảnh Việt Nam đang thúc đẩy lộ trình chuyển dịch năng lượng và mở rộng sử dụng nhiên liệu sinh học, những kinh nghiệm quốc tế thành công đang nhận được sự quan tâm đặc biệt từ các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng doanh nghiệp.

Tại Diễn đàn "Phát triển nhiên liệu sinh học 2026: Từ chủ trương của Đảng đến hành động quốc gia", diễn ra ngày 17/6 tại Hà Nội, Ngài Marco Farani - Đại sứ Brazil tại Việt Nam đã chia sẻ những bài học thực tiễn từ quốc gia được xem là hình mẫu hàng đầu thế giới về phát triển ethanol sinh học. Theo ông, hành trình gần 50 năm xây dựng ngành nhiên liệu sinh học của Brazil cho thấy đây không chỉ là giải pháp giảm phát thải carbon trong giao thông vận tải mà còn là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập cho khu vực nông thôn và tăng cường tự chủ năng lượng quốc gia.

Ngài Marco Farani - Đại sứ Brazil tại Việt Nam chia sẻ những bài học thực tiễn từ quốc gia được xem là hình mẫu hàng đầu thế giới về phát triển ethanol sinh học.

Ngài Marco Farani - Đại sứ Brazil tại Việt Nam chia sẻ những bài học thực tiễn từ quốc gia được xem là hình mẫu hàng đầu thế giới về phát triển ethanol sinh học.

Khác với nhiều quốc gia chỉ xem ethanol là nhiên liệu thay thế, Brazil đã xây dựng được một hệ sinh thái hoàn chỉnh, kết nối chặt chẽ từ sản xuất nguyên liệu nông nghiệp, chế biến công nghiệp, phân phối nhiên liệu đến công nghệ phương tiện và hệ thống chính sách quản lý. Nhờ đó, ethanol sinh học không chỉ góp phần giảm phát thải mà còn tạo động lực phát triển kinh tế và nâng cao giá trị gia tăng cho khu vực nông thôn.

Một trong những yếu tố quan trọng làm nên thành công của Brazil là sự ổn định và nhất quán trong chính sách. Từ năm 1975, nước này đã triển khai chương trình Proalcool nhằm thúc đẩy sản xuất và sử dụng ethanol trên quy mô lớn. Trong nhiều thập kỷ, các chính sách hỗ trợ được duy trì liên tục, tạo niềm tin cho doanh nghiệp, nhà đầu tư và người tiêu dùng. Theo Đại sứ Marco Farani, đây là bài học đặc biệt quan trọng đối với Việt Nam. Ngành nhiên liệu sinh học không thể phát triển bền vững nếu chỉ dựa trên các biện pháp ngắn hạn, mà cần một chiến lược dài hạn với các tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng, cơ chế đầu tư ổn định và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan quản lý.

Thành công của Brazil còn được thể hiện ở quy mô thị trường. Hiện nước này quy định pha trộn bắt buộc 27% ethanol vào xăng và đang hướng tới nâng tỷ lệ lên 30% đến 32%. Đáng chú ý, kể từ khi các dòng xe sử dụng nhiên liệu linh hoạt (flex-fuel) xuất hiện vào năm 2003, ethanol đã trở thành nhiên liệu phổ biến trong đời sống hằng ngày. Hiện nay, khoảng 85% số xe hạng nhẹ tại Brazil, tương đương gần 34 triệu phương tiện, có thể sử dụng ethanol nguyên chất hoặc xăng pha ethanol.

Kinh nghiệm này cho thấy mục tiêu tăng tỷ lệ pha trộn nhiên liệu chỉ là một phần của bài toán. Điều quan trọng không kém là sự tương thích của phương tiện và tính thuận tiện đối với người sử dụng. Muốn phát triển thị trường nhiên liệu sinh học hiệu quả, chính sách về nhiên liệu cần được triển khai song song với chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô và các phương tiện giao thông phù hợp.

Về môi trường, ethanol sinh học của Brazil được đánh giá có hiệu quả giảm phát thải rất cao. Ethanol sản xuất từ mía đường và ngô vụ hai có thể giúp giảm từ 70-82% lượng phát thải carbon so với xăng truyền thống, thậm chí trong điều kiện tối ưu có thể đạt tới 90%. Kể từ năm 2003, việc sử dụng ethanol đã giúp Brazil tránh phát thải khoảng 600 triệu tấn CO₂.

Đối với Việt Nam, đây là một lợi thế đáng chú ý khi lượng phát thải từ giao thông vận tải đang gia tăng nhanh cùng quá trình đô thị hóa. Trong khi việc thay thế hoàn toàn phương tiện chạy xăng bằng xe điện cần nhiều thời gian và nguồn lực, ethanol sinh học có thể trở thành giải pháp chuyển tiếp hiệu quả, giúp giảm phát thải ngay trong ngắn và trung hạn.

Theo Ngài Marco Farani - Đại sứ Brazil tại Việt Nam, kể từ năm 2003, việc sử dụng ethanol đã giúp Brazil tránh phát thải khoảng 600 triệu tấn CO₂.

Theo Ngài Marco Farani - Đại sứ Brazil tại Việt Nam, kể từ năm 2003, việc sử dụng ethanol đã giúp Brazil tránh phát thải khoảng 600 triệu tấn CO₂.

Một điểm đáng chú ý khác là Brazil đặc biệt coi trọng yếu tố phát triển bền vững. Năm 2017, nước này triển khai chương trình RenovaBio với hệ thống đánh giá phát thải theo vòng đời sản phẩm, áp dụng cơ chế tín chỉ carbon và các tiêu chí nghiêm ngặt về sử dụng đất. Những vùng nguyên liệu liên quan đến phá rừng không được tham gia chương trình. Cách tiếp cận này giúp bảo đảm nhiên liệu sinh học thực sự mang lại lợi ích môi trường, đồng thời tăng tính minh bạch và khả năng truy xuất nguồn gốc.

Không chỉ mang lại lợi ích về môi trường, ngành nhiên liệu sinh học còn tạo động lực phát triển kinh tế. Theo số liệu của Brazil, ngành này tạo ra số lượng việc làm cao gấp gần 6 lần so với ngành nhiên liệu hóa thạch trên cùng một đơn vị năng lượng. Điều đó mở ra cơ hội phát triển nông nghiệp, logistics, dịch vụ kỹ thuật, nghiên cứu và nhiều ngành công nghiệp phụ trợ khác.

Trong bối cảnh Việt Nam đang triển khai lộ trình sử dụng xăng E10 và thúc đẩy điện khí hóa giao thông, kinh nghiệm của Brazil cho thấy hai hướng đi này hoàn toàn có thể bổ trợ cho nhau. Nhiên liệu sinh học không phải là đối thủ của xe điện mà là giải pháp đồng hành trong quá trình chuyển đổi năng lượng.

Từ thực tiễn của Brazil, Việt Nam có thể rút ra nhiều bài học quan trọng như duy trì chính sách ổn định trong dài hạn, từng bước nâng tỷ lệ pha trộn nhiên liệu, xây dựng hệ thống tiêu chuẩn phát triển bền vững, gắn nhiên liệu sinh học với mục tiêu phát triển nông thôn và thúc đẩy hợp tác giữa Nhà nước, doanh nghiệp, nhà khoa học và người nông dân.

Thành công của Brazil cho thấy ethanol sinh học không đơn thuần là một loại nhiên liệu mà có thể trở thành một phần quan trọng của nền kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Nếu được hoạch định bài bản và triển khai đồng bộ, nhiên liệu sinh học có thể góp phần giúp Việt Nam thực hiện đồng thời ba mục tiêu lớn: giảm phát thải, tăng cường an ninh năng lượng và thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn theo hướng bền vững.

Đình Khương

Nguồn PetroTimes: https://petrotimes.vn/phat-trien-nhien-lieu-sinh-hoc-tai-viet-nam-bai-hoc-tu-hinh-mau-thanh-cong-cua-brazil-742338.html