Phát triển nông nghiệp sinh thái: Từ mô hình riêng lẻ đến chuyển đổi cả hệ thống
Chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn cần được thực hiện đồng bộ từ tổ chức sản xuất, ứng dụng khoa học công nghệ đến liên kết thị trường và chia sẻ lợi ích. Tại hội thảo khoa học tổ chức ngày 30/9 ở Ninh Bình, các nhà quản lý, chuyên gia, doanh nghiệp và hợp tác xã nhấn mạnh yêu cầu để người nông dân được hưởng lợi xứng đáng từ những giá trị sinh thái mà họ tạo ra.

Toàn cảnh Hội thảo khoa học “Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững”, tổ chức tại Ninh Bình ngày 30/9/2026.
Ngày 30/9/2026, tại Ninh Bình, Ban Tuyên giáo Trung ương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Tỉnh ủy Ninh Bình và các cơ quan liên quan tổ chức Hội thảo khoa học “Phát triển nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn gắn với bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nông thôn bền vững”.
Chủ trì hội thảo có đồng chí Ngô Đông Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; đồng chí Trần Huy Tuấn, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình; đồng chí Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường. Tham dự có đại diện các ban, bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội, doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ quan báo chí.
Hội thảo tập trung làm rõ cơ sở khoa học, thực tiễn và những vấn đề đặt ra trong chuyển đổi mô hình phát triển nông nghiệp; đề xuất giải pháp gắn nâng cao giá trị sản xuất với sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và phát triển nông thôn bền vững.

Đồng chí Ngô Đông Hải, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương, phát biểu khai mạc, định hướng các nội dung trao đổi tại hội thảo.
Phát biểu khai mạc, đồng chí Ngô Đông Hải nhấn mạnh yêu cầu phát triển nông nghiệp sinh thái, nông thôn hiện đại, nông dân văn minh. Trước sức ép về khí hậu, tài nguyên và tiêu chuẩn thị trường, cần chuyển sang tư duy kinh tế nông nghiệp, gắn tăng giá trị với phát triển xanh, tuần hoàn và giảm phát thải.
Phát biểu tại hội thảo, đồng chí Trần Huy Tuấn, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình, cho rằng hiệu quả nông nghiệp phải được nhìn nhận đồng thời qua giá trị gia tăng, bảo vệ đất, nước, đa dạng sinh học và sinh kế. Không gian phát triển sau sắp xếp mở ra cơ hội gắn sản xuất với chế biến, du lịch, văn hóa, song đòi hỏi quản trị theo từng tiểu vùng. Ông cho biết tỉnh đã mở rộng mô hình lúa tiết kiệm nước, giảm phát thải lên hơn 8.800 ha tại 21 xã; dự kiến vụ xuân 2027 đạt trên 15.000 ha.

TS. Nguyễn Sỹ Linh, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, phân tích những hạn chế cần khắc phục để chuyển từ mô hình riêng lẻ sang phát triển hệ thống nông nghiệp sinh thái bền vững.
Chuyển từ tăng sản lượng sang nâng cao tổng giá trị
Trình bày tham luận, TS. Nguyễn Sỹ Linh, Viện Chiến lược, Chính sách nông nghiệp và môi trường, cho rằng mô hình tăng trưởng dựa nhiều vào khai thác tài nguyên và sử dụng vật tư đầu vào đang bộc lộ những giới hạn. Suy thoái đất, ô nhiễm nước, suy giảm đa dạng sinh học và yêu cầu ngày càng cao của thị trường đòi hỏi phải thay đổi cách tổ chức, vận hành toàn bộ hệ thống nông nghiệp và thực phẩm.
Theo ông, phát triển nông nghiệp sinh thái phải được tiếp cận trong mối quan hệ giữa trang trại, cộng đồng, cảnh quan và thị trường. Các mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội cần được xem xét cùng nhau, thay vì chỉ đánh giá hiệu quả qua năng suất hoặc diện tích của từng mô hình.
Thực tiễn đã hình thành nhiều cách làm phù hợp với điều kiện từng vùng, như lúa - tôm, lúa - cá ở Đồng bằng sông Cửu Long; vườn - ao - chuồng ở Đồng bằng sông Hồng; nông lâm kết hợp tại Tây Nguyên; canh tác bảo vệ đất dốc ở miền núi phía Bắc. Đề án phát triển một triệu héc-ta lúa chất lượng cao, phát thải thấp tại Đồng bằng sông Cửu Long cũng được dẫn chứng về cách tiếp cận chuyển đổi gắn với ngành hàng và chuỗi giá trị.
Tuy nhiên, TS. Nguyễn Sỹ Linh chỉ ra sáu hạn chế: nhiều mô hình phụ thuộc vào hỗ trợ ngắn hạn của dự án; chính sách còn phân tán; lợi ích của nông dân chưa tương xứng; thiếu hệ thống đo lường tác động; thị trường và hạ tầng phục vụ sản phẩm sinh thái chưa đủ mạnh; năng lực quản lý, tổ chức sản xuất chưa theo kịp yêu cầu.
Đáng chú ý, việc đánh giá kết quả hiện còn thiên về số lớp tập huấn, số hộ hoặc diện tích tham gia. Trong khi đó, những thay đổi về độ phì của đất, lượng nước tiết kiệm, mức giảm phát thải và thu nhập ròng của nông dân chưa được theo dõi đầy đủ. Khi dự án kết thúc, mô hình dễ suy giảm nếu chưa có thị trường và tổ chức sản xuất đủ sức duy trì.
Từ đó, ông đề xuất chuyển từ tối đa hóa sản lượng sang tối ưu hóa tổng giá trị; từ quản lý hộ riêng lẻ sang quản trị vùng sinh thái; từ sản phẩm đơn lẻ sang chuỗi giá trị; từ quản lý đầu vào sang đánh giá kết quả. Nguồn lực hỗ trợ cần hướng vào hạ tầng, dữ liệu, khuyến nông, nghiên cứu ứng dụng và năng lực hợp tác xã để tạo nền tảng chuyển đổi lâu dài.

TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam đề xuất đồng bộ chính sách, thúc đẩy sự kết hợp giữa nông nghiệp tuần hoàn, sinh thái và hữu cơ.
Kết nối nông nghiệp tuần hoàn, sinh thái và hữu cơ
Phát biểu thảo luận tại Hội thảo, TSKH. Hà Phúc Mịch, Chủ tịch Hiệp hội Nông nghiệp Hữu cơ Việt Nam, nhấn mạnh nông nghiệp tuần hoàn, nông nghiệp sinh thái và nông nghiệp hữu cơ có những cách tiếp cận khác nhau nhưng cùng hướng tới phát triển xanh, bền vững. Việc nhận diện đúng nội hàm từng phương thức là cơ sở để kết hợp hiệu quả trong thực tiễn.
Nông nghiệp tuần hoàn chú trọng khép kín dòng vật chất, tận dụng phụ phẩm để giảm chi phí và chất thải. Nhiều nguyên tắc này đã hiện diện trong mô hình vườn - ao - chuồng truyền thống. Nông nghiệp sinh thái đặt hoạt động sản xuất trong mối quan hệ rộng hơn với hệ sinh thái, văn hóa, xã hội và sinh kế cộng đồng. Nông nghiệp hữu cơ được tổ chức theo các tiêu chuẩn, yêu cầu quản lý và cơ chế bảo đảm chất lượng cụ thể.
Theo Chủ tịch Hiệp hội, Việt Nam đã có nền tảng tiêu chuẩn và chính sách cho phát triển nông nghiệp hữu cơ, đồng thời từng bước mở rộng sản xuất. Tại hội thảo, ông dẫn số liệu diện tích sản xuất hữu cơ của Việt Nam đến cuối năm 2024 ở mức khoảng 125.000 ha. Vấn đề đặt ra là tiếp tục củng cố chất lượng, thị trường và khả năng tham gia của người sản xuất.
TSKH. Hà Phúc Mịch đề nghị tích hợp các chính sách còn riêng lẻ thành nhóm chính sách đồng bộ, hỗ trợ sự kết hợp giữa tuần hoàn, sinh thái và hữu cơ. Sự liên kết này cần được thể hiện từ quy hoạch vùng sản xuất, phát triển vật tư sinh học, chuyển giao kỹ thuật đến tín dụng, chứng nhận và tiêu thụ sản phẩm.
Trong tham luận gửi hội thảo, ông đề xuất một lộ trình chuyển đổi từng bước: khởi đầu bằng tận dụng phụ phẩm, giảm chi phí thông qua thực hành tuần hoàn; tiếp tục cải thiện đất, đa dạng hóa cây trồng và thiết kế hệ thống canh tác theo nguyên lý sinh thái; tiến tới đáp ứng tiêu chuẩn hữu cơ để chuẩn hóa chất lượng, gia tăng giá trị thương mại. Đây là hướng tiếp cận cần được vận dụng phù hợp với điều kiện sản xuất và thị trường của từng nơi.
Đặc biệt, người sản xuất cần được hỗ trợ ngay trong giai đoạn chuyển đổi, khi phải đầu tư cải tạo đất, thay đổi kỹ thuật nhưng sản phẩm chưa được hưởng giá trị tương ứng. Các kiến nghị tập trung vào hỗ trợ vật tư sinh học, vốn vay dài hạn, phát triển nguồn đầu vào hữu cơ, liên kết tiêu thụ và nâng cao vai trò của Hệ thống bảo đảm cùng tham gia (PGS) đối với các nhóm sản xuất quy mô nhỏ.
Theo cách tiếp cận này, khả năng duy trì sản xuất sau khi hết hỗ trợ cần trở thành một tiêu chí quan trọng khi thiết kế chính sách. Niềm tin của thị trường và lợi ích kinh tế thực tế của nông dân là nền tảng để mô hình tiếp tục phát triển.

PGS.TS. Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam đề xuất phát huy lợi thế sinh thái và thị trường của vùng Đồng bằng sông Hồng trong phát triển nông nghiệp xanh, tuần hoàn.
Phát huy lợi thế vùng, đưa tri thức và công nghệ đến người sản xuất
PGS.TS. Đào Thế Anh, Chủ tịch Hội Khoa học Phát triển Nông thôn Việt Nam, phân tích Đồng bằng sông Hồng có lợi thế về điều kiện sinh thái, kinh nghiệm canh tác, mạng lưới hợp tác xã và thị trường tiêu dùng tập trung. Sự phát triển của đô thị, khu công nghiệp và du lịch tạo nhu cầu lớn đối với thực phẩm an toàn, chất lượng, có nguồn gốc rõ ràng.
Tuy nhiên, quỹ đất, nguồn nước chịu nhiều sức ép, trong khi lao động nông nghiệp có xu hướng giảm. Chuyển đổi vì vậy cần gắn sản xuất với dinh dưỡng, sức khỏe, văn hóa, du lịch và thị trường, đồng thời có sự phối hợp giữa các ngành và các chủ thể.
Ông đề xuất tổ chức lại sản xuất với hợp tác xã làm nòng cốt; kết nối thị trường đô thị; huy động tri thức từ viện, trường, doanh nghiệp và kinh nghiệm bản địa; phát huy lực lượng khuyến nông cộng đồng. Công cụ số cần giúp theo dõi kết quả thực tế và hỗ trợ quản trị vùng sản xuất. Đối với Ninh Bình và Đồng bằng sông Hồng, các hướng ưu tiên gồm duy trì diện tích lúa hợp lý gắn với cơ giới hóa, giảm phát thải; phát triển cây vụ đông, dược liệu và nông nghiệp kết hợp du lịch.
Ở góc độ khoa học công nghệ, TS. Lý Hoàng Tùng, Phó Vụ trưởng Vụ Khoa học kỹ thuật và công nghệ, Bộ Khoa học và Công nghệ, nhấn mạnh yêu cầu kết nối nghiên cứu với nhu cầu thực tiễn. Những tiến bộ về giống thích ứng, tưới tiết kiệm, công nghệ sinh học, xử lý phụ phẩm và tự động hóa cần được đưa vào quy trình sản xuất phù hợp với khả năng đầu tư của từng chủ thể.
Các nhóm giải pháp được đề xuất bao gồm xây dựng dữ liệu không gian nông nghiệp; ứng dụng cảm biến, trí tuệ nhân tạo để giám sát và hỗ trợ quyết định; số hóa quản trị hợp tác xã; phát triển công nghệ tuần hoàn, bảo quản và chế biến; kết nối truy xuất nguồn gốc với thị trường. Việc xây dựng hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định kết quả môi trường cũng được đặt ra để hỗ trợ quá trình giảm phát thải và tiếp cận tài chính xanh.
Theo ông, để công nghệ phát huy hiệu quả, cần khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, dữ liệu thiếu liên thông và năng lực số chưa đồng đều. Phát triển nhân lực, cơ chế phối hợp và hạ tầng dùng chung phải đi cùng với đầu tư thiết bị, phần mềm.

PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân Thu, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu đo lường kết quả môi trường và chia sẻ lợi ích trong tổ chức chuỗi giá trị nông nghiệp xanh.
Chuỗi giá trị xanh phải đo lường được và chia sẻ lợi ích
PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân Thu, Phó Chủ tịch Hiệp hội Chuyển đổi Xanh Việt Nam, cho rằng doanh nghiệp có vai trò quan trọng trong tổ chức vùng nguyên liệu, đầu tư chế biến, xây dựng thương hiệu và kết nối thị trường. Vai trò đó cần gắn với hợp tác xã và người nông dân bằng các cơ chế hợp tác ổn định, minh bạch.
Số liệu được dẫn trong tham luận cho thấy, đến hết năm 2025, cả nước đã phê duyệt 2.938 dự án, kế hoạch liên kết, thu hút 1.305 doanh nghiệp, 2.412 hợp tác xã, 538 tổ hợp tác và hơn 211.000 hộ nông dân tham gia, với tổng kinh phí khoảng 15.243 tỷ đồng. Tuy nhiên, tăng số lượng liên kết chưa đồng nghĩa với hình thành được các chuỗi giá trị xanh hoàn chỉnh.
Qua phân tích 13 trường hợp doanh nghiệp và hợp tác xã, diễn giả nhận diện những khác biệt về năng lực. Doanh nghiệp lớn có lợi thế về vốn, công nghệ và thị trường nhưng vẫn gặp khó trong quản trị tác động môi trường toàn chuỗi. Nhiều hợp tác xã có thực hành tận dụng phụ phẩm, tiết kiệm tài nguyên tại chỗ, song thiếu dữ liệu và công cụ để chứng minh kết quả.
Năm khoảng trống được chỉ ra gồm đo lường kết quả xanh, nhân rộng mô hình, chất lượng liên kết chuỗi, dữ liệu có kiểm chứng và cơ chế phân chia giá trị. Một hợp đồng bao tiêu cần đi kèm thỏa thuận về quy trình, trách nhiệm môi trường, chi phí chuyển đổi và cách chia sẻ rủi ro khi thị trường biến động.
PGS.TS. Nguyễn Thị Xuân Thu đề xuất khung đánh giá G1- G6, bao quát các mặt giảm tác động môi trường, bảo vệ hệ sinh thái, tuần hoàn vật chất, dữ liệu, hiệu quả kinh tế và sinh kế. Khung này là công cụ phân tích, tự đánh giá được đề xuất trong tham luận, giúp nhận diện mức độ hoàn thiện của chuỗi.
Diễn giả cũng lưu ý cần phân biệt việc có nhật ký điện tử, mã QR với khả năng kiểm chứng kết quả môi trường. Thông tin về lượng nước tiết kiệm, vật tư sử dụng hoặc mức giảm phát thải phải được thu thập theo phương pháp phù hợp và được kiểm tra khi phục vụ yêu cầu xác nhận.
Các kiến nghị tập trung vào hoàn thiện hợp đồng liên kết và cơ chế chia sẻ lợi ích; chuẩn hóa, liên thông dữ liệu; phát triển tài chính xanh. Đề xuất “hộ chiếu xanh số” cho vùng trồng, vùng nuôi hướng tới tích hợp thông tin về điều kiện sản xuất, vật tư, truy xuất nguồn gốc và kết quả môi trường, hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã chuẩn bị dữ liệu phục vụ thị trường.

Các đồng chí chủ trì hội thảo: Ngô Đông Hải, Phó Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Trần Huy Tuấn, Bí thư Tỉnh ủy Ninh Bình; Nguyễn Tuấn Quang, Cục trưởng Cục Biến đổi khí hậu, Bộ Nông nghiệp và Môi trường.
Từ phụ phẩm lúa gạo đến giá trị sinh thái và di sản
Tại phiên thảo luận, đại diện HTX Toản Xuân chia sẻ quá trình chuyển từ sản xuất phụ thuộc nhiều vào đầu vào hóa học sang tăng cường thực hành tuần hoàn trong chuỗi lúa gạo. Trọng tâm của quá trình này là phục hồi đất và đưa phụ phẩm trở lại phục vụ sản xuất.
Trấu được ép viên làm nhiên liệu sấy và cung cấp cho các cơ sở sử dụng năng lượng sinh khối. Một phần trấu được chuyển đến trang trại chăn nuôi làm đệm lót sinh học; nguồn phân sau đó được thu hồi, xử lý thành phân hữu cơ phục vụ vùng nguyên liệu. Rơm rạ và các phụ phẩm khác được thu gom, tận dụng thay vì bỏ phí.
Theo số liệu đơn vị nêu trong tham luận, việc thay thế than bằng trấu ép viên giúp chi phí sấy giảm từ khoảng 80.000 đồng xuống 50.000 đồng mỗi tấn thóc. Thực hành tuần hoàn từng bước giúp chuỗi sản xuất chủ động hơn về đầu vào và giảm chi phí.
Năm 2026, Toản Xuân tiếp tục xây dựng vùng lúa hữu cơ sinh thái tập trung tại khu vực bãi bồi xã Giao Minh, tỉnh Ninh Bình, hướng tới đáp ứng tiêu chuẩn USDA Organic. Mô hình chú trọng điều tiết nước, mật độ cấy phù hợp, bảo vệ sinh vật bản địa và hạn chế tác động đến hệ sinh thái. Từ thực tiễn này, đơn vị đề nghị hỗ trợ xây dựng vùng nguyên liệu, thu gom và xử lý phụ phẩm, tiếp cận chứng nhận và duy trì liên kết lâu dài với nông dân.
Các ý kiến thảo luận cũng đề nghị phát triển nông nghiệp tuần hoàn từ những thực hành ở cấp hộ, kết nối các mô hình nhỏ thông qua hợp tác xã. Hướng tiếp cận này giúp đông đảo nông dân tham gia bằng nguồn lực sẵn có, kết hợp hướng dẫn kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm giữa những người sản xuất.
TS. Nguyễn Trọng Khanh, Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm, đề xuất khai thác lợi thế mùa đông của Đồng bằng sông Hồng để phát triển cây trồng có giá trị, trong đó có khoai tây. Việc mở rộng sản xuất cần đi cùng tổ chức chuỗi từ giống, canh tác, chế biến đến tiêu thụ và ứng dụng chuyển đổi số, bảo đảm gắn quy mô vùng nguyên liệu với nhu cầu thị trường.
Mở rộng trao đổi sang lĩnh vực thủy sản, ông Nguyễn Hữu Dũng, Chủ tịch Hiệp hội Nuôi biển Việt Nam, nhấn mạnh yêu cầu coi trọng tài nguyên nước. Từ kinh nghiệm “nuôi nước trước, nuôi cá sau”, ông cho rằng bảo vệ môi trường nước là nền tảng của nuôi biển bền vững, đồng thời bày tỏ mong muốn tăng cường hợp tác với Ninh Bình trong lĩnh vực này.
Ở góc độ văn hóa và truyền thông, nhà báo Chu Minh Khôi, Tạp chí Kinh tế Việt Nam, đặt vấn đề khôi phục sức sống của đồng ruộng, gìn giữ đất, nước và không khí trong phát triển nông nghiệp. Những giá trị đó có thể kết nối với cảnh quan, tri thức bản địa và du lịch để tạo thêm sinh kế.
Đối với Ninh Bình, ông gợi mở hướng phát triển cánh đồng Tam Cốc gắn với trải nghiệm du lịch, khai thác giá trị cây sen ở khu vực Hang Múa, bảo tồn và phát triển dược liệu tại Cúc Phương. Báo chí có vai trò chuyển tải tri thức khoa học bằng ngôn ngữ dễ hiểu, giới thiệu những cách làm hiệu quả để người dân có thể học hỏi và áp dụng.

Kết luận hội thảo, đồng chí Ngô Đông Hải nhấn mạnh yêu cầu lựa chọn lộ trình chuyển đổi phù hợp với từng địa phương, lấy người nông dân làm chủ thể thực hiện và thụ hưởng.
Lấy người nông dân làm chủ thể thực hiện và thụ hưởng
Phát biểu kết luận, đồng chí Ngô Đông Hải khẳng định chuyển đổi sang nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn là yêu cầu tất yếu, cấp bách nhằm nâng cao chất lượng phát triển và phục vụ đời sống nhân dân.
Đồng chí nhấn mạnh cần lựa chọn lộ trình phù hợp với từng địa phương, tiểu vùng sinh thái, tập quán sản xuất và điều kiện kinh tế, xã hội. Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực là những động lực quan trọng của quá trình này.
Doanh nghiệp và hợp tác xã giữ vai trò kết nối, tổ chức chuỗi giá trị; người nông dân là chủ thể trực tiếp thực hiện và thụ hưởng. Hệ thống giải pháp phải đồng bộ từ thể chế, nguồn lực đến tổ chức sản xuất và thị trường, thúc đẩy chuyển từ tư duy sản xuất nông nghiệp sang tư duy kinh tế nông nghiệp.
Sau hội thảo, Ban Tổ chức và Ban Thư ký sẽ tổng hợp các tham luận, ý kiến thảo luận để xây dựng báo cáo, khuyến nghị chính sách gửi các cơ quan Trung ương và địa phương; đồng thời tiếp tục đẩy mạnh tuyên truyền, góp phần đưa các định hướng phát triển vào thực tiễn.
Những trao đổi tại hội thảo đặt ra một yêu cầu xuyên suốt: chuyển đổi phải tạo ra lợi ích có thể nhận biết và duy trì lâu dài. Khi đất được phục hồi, tài nguyên được sử dụng hiệu quả, sản phẩm có thị trường và người nông dân được chia sẻ giá trị tương xứng, nông nghiệp sinh thái, xanh, tuần hoàn mới có nền tảng để lan tỏa bền vững.


