Phát triển và khai thác tài sản trí tuệ sản phẩm của Huế

HNN - Để mỗi sản phẩm “Made in Huế” trở thành lợi thế cạnh tranh, mang lại giá trị kinh tế bền vững, cần có sự bảo hộ, quản lý và khai thác tài sản trí tuệ (TSTT) một cách bài bản. Với Huế, nơi hội tụ nhiều đặc sản, nghề truyền thống giàu bản sắc cùng đội ngũ nhà nghiên cứu, nhà sáng chế dồi dào, phát triển TSTT không chỉ là bảo vệ thương hiệu mà còn mở ra hướng đi mới cho các sản phẩm của Huế trên thị trường.

 Quản lý và khai thác giá trị sản phẩm được bảo hộ sẽ thúc đẩy hiệu quả kinh tế.

 Quản lý và khai thác giá trị sản phẩm được bảo hộ sẽ thúc đẩy hiệu quả kinh tế.

Thuơng hiệu đi cùng giá trị thực

Sen Huế, thanh trà Huế, dầu tràm, bún bò Huế, áo dài… không chỉ là những sản phẩm, món ăn quen thuộc mà còn góp phần định vị thương hiệu xứ Huế. Tuy nhiên, “danh tiếng” hay việc xác lập quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) thôi chưa đủ trong bối cảnh thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Muốn tạo ra giá trị kinh tế, các TSTT cần được khai thác và phát triển bài bản, hiệu quả.

Thực tế cho thấy, khi TSTT được bảo hộ và khai thác phù hợp, người sản xuất có thể hưởng lợi trực tiếp. Thanh trà Huế là một ví dụ. Sau thời gian được bảo hộ nhãn hiệu tập thể, đầu năm 2024, sản phẩm được cấp giấy chứng nhận đăng ký chỉ dẫn địa lý “Thanh trà Huế”, tạo thêm cơ sở khẳng định nguồn gốc và đặc trưng chất lượng.

Tại các vùng trồng như Thủy Xuân, Phong Điền, Hương Trà, Phú Bài…, người trồng thanh trà từng bước hưởng lợi từ việc phát triển thương hiệu. Theo chị Thân Thị Hạnh, hộ trồng thanh trà ở phường Thủy Xuân, trước đây, đến mùa thu hoạch, gia đình thường mang quả ra chợ bán lẻ. Hiện nay, nhiều thương lái đã chủ động liên hệ, đặt hàng, thậm chí đặt cọc trước mùa vụ. Giá bán một số loại thanh trà chất lượng cao cũng tăng đáng kể so với trước khi sản phẩm được xây dựng thương hiệu.

Từ câu chuyện thanh trà có thể thấy, thương hiệu gắn với chất lượng ổn định, nguồn gốc rõ ràng và thị trường tiêu thụ sẽ mở thêm cơ hội nâng cao thu nhập cho người sản xuất, đồng thời giúp sản phẩm địa phương khẳng định vị thế.

Theo số liệu của Sở Khoa học và Công nghệ, giai đoạn 2021 - 2026, Huế có 21 đơn đăng ký sáng chế, 66 đơn đăng ký giải pháp hữu ích, 29 đơn đăng ký kiểu dáng công nghiệp và 1.293 đơn đăng ký nhãn hiệu. Thành phố hiện có 69 văn bằng bảo hộ nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận và 4 chỉ dẫn địa lý. Trong Chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) năm 2026, Huế xếp thứ 3 cả nước về chỉ tiêu đơn đăng ký nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận trên 10.000 dân và thứ 6 về đơn đăng ký chỉ dẫn địa lý trên 10.000 dân.

Theo Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ Bùi Hoàng Minh, mặc dù chính quyền địa phương rất quan tâm đến SHTT và việc khai thác, phát triển TSTT, song thách thức hiện nay là làm sao để những tài sản đã được bảo hộ thực sự phát huy giá trị trong sản xuất, kinh doanh. Trên thực tế, một số sản phẩm như nón lá Huế, tôm chua Huế, hoa giấy Thanh Tiên, gốm Phước Tích, bún Vân Cù… vẫn gặp khó khăn trong quản lý thương hiệu, mở rộng thị trường và nâng cao sức cạnh tranh.

Chuyển từ bảo hộ sang khai thác, phát triển

Theo ông Nguyễn Phước Nhân, Trưởng phòng Đổi mới sáng tạo, Sở Khoa học và Công nghệ, để phát huy hiệu quả giá trị TSTT, các cơ sở sản xuất, hợp tác xã, hội nghề nghiệp và đơn vị quản lý nhãn hiệu cần tiếp tục đầu tư phát triển thương hiệu; hoàn thiện quy chế quản lý, sử dụng nhãn hiệu và thống nhất quy trình sản xuất. Bên cạnh vai trò của đơn vị quản lý, mỗi chủ thể cần chủ động tuân thủ quy định, duy trì chất lượng sản phẩm.

Từ yêu cầu thực tiễn, Huế định hướng chuyển từ hỗ trợ xác lập quyền sang chú trọng quản lý, khai thác và thương mại hóa TSTT. Kế hoạch phát triển, khai thác TSTT đối với sản phẩm chủ lực, đặc sản và sản phẩm hình thành từ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo trên địa bàn thành phố đặt mục tiêu xác định SHTT là nguồn lực nội sinh, tài sản chiến lược, góp phần thúc đẩy tăng trưởng.

Theo đó, bảo hộ SHTT phải gắn với phát triển thị trường khoa học và công nghệ, lấy doanh nghiệp làm trung tâm, kết nối kết quả nghiên cứu, sáng kiến với nhu cầu thực tiễn. Những sản phẩm có tiềm năng thương mại hóa sẽ được hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ pháp lý, tiêu chuẩn chất lượng, thông tin thị trường và kết nối với doanh nghiệp, nhà đầu tư, đối tác chuyển giao.

Sự liên kết giữa Nhà nước, nhà trường, nhà khoa học và doanh nghiệp cũng cần được thúc đẩy theo hướng cùng xác định nhu cầu, cùng đầu tư và cùng khai thác kết quả. Phó Giám đốc Đại học Huế, PGS.TS. Đỗ Thị Xuân Dung đề xuất cơ chế đồng đặt hàng, đồng tài trợ và chia sẻ rủi ro đối với các nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo có sự tham gia của doanh nghiệp. Quyền sở hữu, quyền khai thác kết quả nghiên cứu và phương thức phân chia lợi ích cần được thỏa thuận rõ từ đầu, tạo động lực để đưa tri thức, sáng kiến vào thực tiễn.

Đến năm 2030, TP. Huế phấn đấu nâng cao năng lực sáng tạo, bảo hộ, quản trị, khai thác và thực thi quyền SHTT; tăng số lượng đơn đăng ký sở hữu công nghiệp tối thiểu 12% và đơn đăng ký bảo hộ giống cây trồng tối thiểu 10% so với giai đoạn 2021 - 2025. Thành phố cũng đặt mục tiêu tỷ lệ sáng chế, giải pháp hữu ích được thương mại hóa đạt ít nhất 10% số văn bằng bảo hộ sáng chế, giải pháp hữu ích được cấp, qua đó thúc đẩy đưa kết quả sáng tạo vào sản xuất, kinh doanh.

Bài, ảnh: HOÀI THƯƠNG

Nguồn Thừa Thiên Huế: https://huengaynay.vn/kinh-te/phat-trien-va-khai-thac-tai-san-tri-tue-san-pham-cua-hue-171286.html