Phê phán luận điệu xuyên tạc 'Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích quốc gia, dân tộc'
Vai trò lãnh đạo của Đảng được kiểm nghiệm bởi quá trình lịch sử lâu dài, đầy khó khăn, thách thức và sàng lọc nghiệt ngã mà ở bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, những người cộng sản luôn thể hiện tính tiền phong, gương mẫu, sẵn sàng gánh vác mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh xương máu để thực hiện thành công sứ mệnh thiêng liêng, trách nhiệm cao cả, hết lòng vì nước, vì dân.
Luận điệu phi khoa học, phi lịch sử và thiếu thiện chí
Trong dòng chảy thông tin hiện nay, nhất là trên không gian mạng, có những luận điệu các thế lực thù địch, cơ hội chính trị và phần tử bất mãn thường xuyên tung ra không nhằm tranh luận học thuật mà gieo rắc sự nghi ngờ, phủ nhận lịch sử, chia rẽ niềm tin và làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc.
Một trong những luận điệu được các đối tượng rêu rao là: “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích quốc gia, dân tộc”. Đây là sự xuyên tạc có chủ đích, nhằm tách Đảng khỏi dân tộc, đối lập Đảng với nhân dân, phủ nhận thành quả cách mạng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ xã hội chủ nghĩa, từ đó phủ định vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Bản chất của luận điệu này là đánh tráo khái niệm giữa việc phê bình hạn chế, khuyết điểm trong quá trình lãnh đạo, quản lý với việc phủ nhận bản chất, mục tiêu và vai trò lịch sử của Đảng. Trong bất kỳ quốc gia nào, quá trình phát triển cũng có khó khăn, hạn chế, thậm chí có sai phạm của một bộ phận cán bộ ở một thời điểm nào đó. Nhưng lấy hạn chế cục bộ để phủ định toàn bộ con đường phát triển của đất nước là thủ pháp phi khoa học, phi lịch sử và thiếu thiện chí.

Ảnh minh họa: VGP
"Đảng Cộng sản Việt Nam vì lợi ích, quốc gia dân tộc” là có cơ sở lịch sử, pháp lý và thực tiễn
“Lợi ích quốc gia, dân tộc” không phải là khái niệm trừu tượng. Đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; là quyền làm chủ của nhân dân; là hòa bình, ổn định để phát triển; là đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng lên; là vị thế đất nước ngày càng được củng cố trên trường quốc tế. Xét trên những tiêu chí ấy, sự ra đời, lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn chặt với vận mệnh quốc gia, dân tộc.
Nhìn từ lịch sử, trong tiến trình cách mạng Việt Nam từ năm 1930 đến nay, không thể tách vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam khỏi các mốc lớn của dân tộc: Giành độc lập, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế và xây dựng đất nước trong điều kiện hòa bình. Thực tiễn đó chứng minh rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh dân tộc mất độc lập, nhân dân chịu ách áp bức của chủ nghĩa thực dân.
Sứ mệnh lịch sử của Đảng ngay từ đầu là giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng con người. Sự thật nước Việt Nam đã là nước độc lập, dân tộc Việt Nam đã được hưởng quyền tự do và hạnh phúc. Nếu Đảng không vì lợi ích quốc gia, dân tộc thì làm sao có thể quy tụ được sức mạnh của hàng triệu người Việt Nam trong các cuộc đấu tranh trường kỳ? Nếu Đảng đứng ngoài lợi ích dân tộc, thì làm sao có thể lãnh đạo nhân dân đi qua những thử thách sinh tử của chiến tranh, đói nghèo, bao vây cấm vận, khủng hoảng kinh tế-xã hội để từng bước xây dựng một quốc gia độc lập, thống nhất, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế?
Địa vị lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam không phải là ý chí chủ quan của một cá nhân hay của một lực lượng chính trị nào mà đó là kết quả của quá trình thử thách khắc nghiệt của lịch sử, là sự lựa chọn của dân tộc Việt Nam. Vai trò lãnh đạo của Đảng được kiểm nghiệm bởi quá trình lịch sử lâu dài, đầy khó khăn và sàng lọc nghiệt ngã mà bất cứ nơi đâu, bất cứ lúc nào, những người cộng sản luôn thể hiện tính tiền phong, gương mẫu, sẵn sàng gánh vác mọi gian khổ, kể cả chấp nhận hy sinh xương máu để thực hiện thành công sứ mệnh thiêng liêng, trách nhiệm cao cả, hết lòng vì nước, vì dân.
Thực tiễn lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã tôi luyện Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ năng lực trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức, uy tín để lãnh đạo nhân dân thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng đất nước hùng cường, nhân dân có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc.
Về cơ sở pháp lý, Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hiến định Đảng Cộng sản Việt Nam là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”; đồng thời nêu rõ “Đảng Cộng sản Việt Nam gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình” và “Các tổ chức Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật” (Điều 4). Điều này xác lập cơ sở pháp lý vững chắc về vai trò lãnh đạo của Đảng với vận mệnh của quốc gia, dân tộc Việt Nam.
Đảng lãnh đạo đất nước nhưng không đứng ngoài quốc gia, không đứng trên nhân dân mà quan hệ mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân và chịu sự ràng buộc của pháp luật. Cũng trong Hiến pháp, đường lối đối ngoại của Việt Nam được xác định là “độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập, hợp tác quốc tế trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc và điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế vì lợi ích quốc gia, dân tộc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới” (Điều 12). Như vậy, lợi ích quốc gia, dân tộc không chỉ là một tuyên ngôn chính trị mà đã trở thành nguyên tắc hiến định trong tổ chức và vận hành chính sách đối ngoại của Nhà nước Việt Nam.
Nhìn từ thực tiễn phát triển, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã giành được độc lập, tự do; hoàn thành mục tiêu cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, đưa đất nước từng bước phát triển theo mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, thành tựu phát triển kinh tế-xã hội trong công cuộc đổi mới là minh chứng nổi bật cho việc Đảng đặt lợi ích quốc gia, dân tộc lên trên hết. Đổi mới không phải là sự thay đổi tùy hứng mà là quyết sách có ý nghĩa lịch sử, xuất phát từ yêu cầu sống còn của đất nước và nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Nhờ đổi mới, Việt Nam từ một nền kinh tế nghèo nàn, bị bao vây, cấm vận, từng bước trở thành nền kinh tế năng động, hội nhập sâu rộng với thế giới.
Vào thời điểm Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới đạt mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 200 USD/năm và xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới. 40 năm sau, Việt Nam đạt thu nhập bình quân 5.026 USD/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo đa chiều còn 1,3%. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) năm 2025 đạt trên 514 tỷ USD, gấp 1,48 lần năm 2020; chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021. So với mốc đổi mới từ năm 1986, GDP Việt Nam tăng từ 4,5 tỷ USD lên trên 514 tỷ USD, tăng hơn 114 lần; GDP bình quân đầu người từ 74 USD lên 5.026 USD, tăng gần 68 lần. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện căn bản và toàn diện. Chỉ số phát triển con người (HDI) đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao.
Những con số đó có ý nghĩa chính trị-xã hội sâu sắc. Tăng trưởng kinh tế không chỉ là câu chuyện GDP mà là bảo đảm an ninh lương thực, việc làm, trường học, bệnh viện, đường sá, điện lưới, internet, nhà ở, sinh kế và cơ hội vươn lên của mỗi người dân. Một đường lối lãnh đạo không vì lợi ích quốc gia, dân tộc thì không thể tạo ra sự chuyển biến sâu rộng như vậy. Một thể chế không đặt con người ở vị trí trung tâm thì không thể đưa hàng triệu người thoát nghèo, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế, dịch vụ công và cơ hội hội nhập.
Tất nhiên, thực tiễn Việt Nam vẫn còn những hạn chế, bất cập cần tiếp tục hoàn thiện. Đây là quy luật tất yếu của mọi sự phát triển, bởi không có trạng thái phát triển nào hoàn hảo tuyệt đối. Trong bối cảnh phát triển mới, để bảo đảm lợi ích quốc gia, dân tộc đòi hỏi Việt Nam phải tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn, phát triển nhanh và bền vững hơn, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa hiệu quả hơn, phòng chống tham nhũng quyết liệt hơn, hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, chăm lo đời sống nhân dân thiết thực hơn. Đó cũng là con đường để củng cố niềm tin của nhân dân, làm thất bại mọi âm mưu chia rẽ Đảng với dân tộc, Nhà nước với nhân dân.
Nhìn tổng thể, luận điệu “Đảng Cộng sản Việt Nam không vì lợi ích quốc gia, dân tộc” là sự xuyên tạc cả về lịch sử, pháp lý và thực tiễn. Đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm công dân của mỗi người Việt Nam yêu nước. Lòng yêu nước của mỗi người dân Việt Nam hôm nay được thể hiện ở bản lĩnh nhận diện phải-trái, đúng-sai, là thái độ tỉnh táo trước thông tin xuyên tạc, là hành động xây dựng đất nước bằng trách nhiệm lao động, học tập, cống hiến và bảo vệ sự thật. Sự thật ấy là: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời từ yêu cầu của lịch sử dân tộc, tồn tại trong lòng nhân dân, lãnh đạo vì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, hạnh phúc.











