Phim 'Hẹn em ngày nhật thực' - thú vị, mềm mại nhưng còn nhiều vụng về
'Hẹn em ngày nhật thực' xử lý mềm mại chất liệu tôn giáo và đức tin, đồng thời mang đến một câu chuyện tình cảm dễ tiếp cận. Tuy nhiên, phim vẫn còn những hạn chế đáng tiếc.


Để đến được với khán giả, Hẹn em ngày nhật thực đã trải qua một hành trình dài với không ít biến động, từ nhan đề ban đầu Thư tình gửi ma sơ đến tên gọi hiện tại, cũng như việc phải liên tục dời lịch phát hành trong bối cảnh hàng loạt phim Việt có kinh phí lớn ồ ạt ra rạp.
Bên cạnh đó, tác phẩm ban đầu cũng vấp phải không ít nghi ngờ, khi người cầm trịch là Lê Thiện Viễn từng có nhiều dự án trồi sụt, còn bộ đôi diễn viên chính Đoàn Thiên Ân và Khương Lê cũng chưa được đánh giá cao.
Dù vậy, Hẹn em ngày nhật thực thực sự đã mang đến những bất ngờ thú vị. Bên cạnh việc tương đối khéo léo trong cách khai thác một chất liệu nhạy cảm như tôn giáo, phim còn phần nào thành công trong việc biến một thể loại vốn kén khán giả trên màn ảnh Việt như rom-com trở nên gần gũi, dễ tiếp cận.
Xử lý tốt những chất liệu khó
Hẹn em ngày nhật thực có câu chuyện trải dài từ những năm thập niên 1980-1990, tại một xóm đạo Công giáo miền Trung. Phim theo chân Thiên Ân (Đoàn Thiên Ân), cô gái sinh ra trong một gia đình ngoan đạo, đang cận kề cột mốc quan trọng nhất cuộc đời - thực hiện nghi thức khấn trọn để trở thành nữ tu thánh khiết. Dù vậy, những mắc míu trong quá khứ, mà ở đây là mối tình bất khả cách đây nhiều năm, vẫn không khỏi khiến cô cảm thấy lung lay. Để có thể trút bỏ hoàn toàn vướng bận, toàn tâm phụng sự Chúa, Thiên Ân quyết định lên đường tìm lại người tình năm xưa để trao trả kỷ vật.
Phim sau đó quay trở lại thời điểm 6 năm trước, khi Thiên Ân rơi vào mối tình nồng đượm với chàng thợ điện mới chuyển công tác về làng (Khương Lê). Cả hai có quãng thời gian dài bình yên bên nhau, thậm chí đã có những cam kết về tương lai, khi Thiên hứa chuyên tâm học đạo để có thể cùng chung đức tin với người mình yêu, và hơn hết là hướng đến một gia đình.
Dù vậy, mẹ của Thiên Ân (NSND Lê Khanh), người từng tan vỡ hôn nhân vì trót tin lời hứa của một kẻ ngoại đạo, đã quyết liệt ngăn cấm, bởi sợ con gái lặp lại vết xe đổ của chính mình.

Tạo hình của Đoàn Thiên Ân trong phim.
Thời điểm dự án được công bố, không ít khán giả lo ngại khi đạo diễn Lê Thiện Viễn theo đuổi một chủ đề khá tham vọng, và cũng dễ gây tranh cãi là tôn giáo và đức tin. Tuy nhiên, với việc thấu hiểu những gì bản thân muốn truyền tải, cùng khả năng “nêm nếm” vừa phải, bộ phim đã phần nào tìm được sự cân bằng cần thiết.
Dưới ống kính của Lê Thiện Viễn, Công giáo như một điểm tựa tinh thần, và cũng là yếu tố chi phối tới nhiều quyết định của nhân vật. Con người bị chia cắt bởi những định kiến về đức tin, nhưng đồng thời cũng được vỗ về, nâng đỡ từ chính đức tin ấy. Và đâu đó, giữa những rối ren, phim còn gợi mở cách Thiên Chúa có những sắp đặt, chỉ điểm cho những kẻ lạc lối.
Tất thảy được kể một cách tương đối dễ chịu, không cố gồng để truyền tải quá nhiều thông điệp nặng nề về tôn giáo. Thay vào đó, phim mở ra góc nhìn về đức tin của các nhân vật, cùng cách nó ảnh hưởng đến những quyết định và trạng thái tinh thần của họ: từ người sùng đạo tuyệt đối như người mẹ, người tín thác vào Chúa để tìm chốn nương tựa như Thiên Ân, đến chàng trai tìm đến đạo vì người mình yêu; và khép lại bằng một phân đoạn khá xúc động của Hứa Vĩ Văn ở hồi kết, khi chỉ ra cách đức tin dẫn dắt, nâng đỡ con người.
Về mặt thể loại, phim cũng có sự khác lạ nhất định so với những bộ phim thương mại gần đây, khi hướng đến một câu chuyện lãng mạn nhẹ nhàng, không quá kịch tính hay mạnh về yếu tố giải trí. Dù vậy, đạo diễn vẫn có những nhấn nhá vừa đủ, như cách đan cài những miếng hài, hay tạo ra những trắc trở trong mối quan hệ để giúp câu chuyện yêu đương không quá nhạt nhòa, dễ tiếp cận đối tượng khán giả phổ thông.
Thực chất, đứa con tinh thần của Lê Thiện Viễn vẫn có những tình tiết khiên cưỡng, có phần gượng gạo trong việc thúc đẩy sự gắn kết giữa hai nhân vật chính, đặc biệt là màn gặp gỡ ban đầu. Ở đó, cách xây dựng khoảnh khắc “love at first sight” (yêu từ cái nhìn đầu tiên) vẫn đi theo lối mòn quen thuộc, triển khai còn hời hợt, khó chạm đến khán giả.
Bù lại, nhờ tuyến tình cảm được triển khai tương đối độc lập, hai nhân vật về sau có khá nhiều không gian để phát triển. Cách diễn đạt câu chuyện yêu đương ở nửa sau cũng đem đến cảm giác thổn thức nhất định, khi đạo diễn duy trì được một nhịp điệu chừng mực cho câu chuyện tình yêu.
Trong một xử lý quen thuộc của dòng phim tình cảm Việt, với cú montage diễn tiến tình yêu, đạo diễn lần lượt dẫn dắt khán giả đi qua những cung bậc cảm xúc: từ tán tỉnh, những rung động kín kẽ, sự đồng điệu, cam kết, cho đến khoảnh khắc “quên mình” vì người mình yêu. Mạch cảm xúc ấy khép lại bằng một phân đoạn mang tính nghi thức tại nhà thờ, khi tình yêu trở nên chín muồi, và được gửi gắm, neo giữ trước đức tin.

Phân đoạn tronh nhà thờ của Thiên Ân và Thiên.
Diễn xuất tròn trịa nhưng phim còn nhiều vụng về
Dù vậy, đôi lúc, tác phẩm cũng không tránh khỏi những khoảnh khắc tạo cảm giác cũ kỹ, có phần rập khuôn; đơn cử như phân đoạn dùng một tai nạn bất thình lình để đẩy cảm xúc câu chuyện, vốn là một cách xử lý khá quen thuộc song không mấy hiệu quả. Không chỉ đánh rơi sự lãng mạn vốn đã được dày công xây dựng, chi tiết này còn tạo cảm giác chững lại, bế tắc trong diễn tiến tâm lý. Chưa kể, việc dàn dựng tai nạn cũng thiếu thuyết phục, lộ rõ tính sắp đặt.
Giá như ê-kíp phim tiết chế hơn trong cách xử lý, không phụ thuộc vào những cú sốc kịch tính, mà để xung đột nảy sinh từ chính nội tại nhân vật hoặc những ràng buộc từ bối cảnh, định kiến, sự chia cắt sẽ trở nên tự nhiên, chạm đến cảm xúc một cách chân thành hơn.
Bên cạnh đó, cách thể hiện ở một số phân đoạn vẫn mang màu sắc cũ kỹ, đôi phần sến sẩm, chẳng hạn như cú tát đi kèm hiệu ứng sấm sét, hay mô-típ nhân vật ôm nỗi đau rồi chạy dưới mưa xuất hiện liên tục… Những lựa chọn dàn dựng này tạo cảm giác phô diễn cảm xúc, khiến tổng thể trở nên nặng nề và phần nào làm suy giảm chất lãng mạn vốn là điểm tựa của câu chuyện.
Bù lại, diễn xuất của dàn cast có thể xem là điểm cộng lớn. Trong một bộ phim không nặng về diễn biến, màn thể hiện của dàn diễn viên, đặc biệt là bộ đôi Thiên Ân - Khương Lê, đóng vai trò tối quan trọng trong thành bại của tác phẩm. Và may mắn là, cả hai đều mang đến những màn thể hiện tương đối thuyết phục. Thiên Ân thành công đưa khán giả qua nhiều sắc thái cảm xúc, từ một cô gái đôi mươi ngoan ngoãn, bẽn lẽn, tới sự sinh động, nhiệt thành trong tình yêu, và rồi dần trở nên nổi loạn để bảo vệ tình yêu của mình.

Phim vẫn còn một vài xử lý khá cũ.
Trong khi đó, Khương Lê đem lại sự chân thành, đáng tin, và chất lãng mạn nhất định để thuyết phục khán giả về lý do anh có được tình cảm của Thiên Ân. Chemistry của cả hai được xây dựng khá tốt, thể hiện qua ánh nhìn và những tương tác có phần bẽn lẽn, tạo cảm giác gần gũi, tự nhiên.
Màn thể hiện trong vai người mẹ đầy tổn thương, định kiến, và lỗi lầm của NSND Lê Khanh cũng đem đến nhiều lớp cảm xúc. Ở nửa đầu, cô cho thấy nguồn nội lực đầy mạnh mẽ, lấn át hoàn toàn con gái mình một cách có chủ đích; hay trong những phân đoạn mưu tính, bà cũng cho thấy sự lạnh lùng nhất định.
Thực chất, sẽ hơi quá lời khi cho rằng Hẹn em ngày nhật thực là một tác phẩm xuất sắc hay đột phá, bởi Lê Thiện Viễn vẫn còn không ít vụng về trong cách kể chuyện và xử lý không khí phim.
Song, cũng không thể phủ nhận việc nam đạo diễn đã có sự lên tay rõ ràng so với những tác phẩm trước, đặc biệt là khi anh thành công biến những chất liệu vốn khó tiếp cận trở nên mềm mại, gần gũi hơn với khán giả. Và nếu đặt trong mặt bằng chung phim Việt đến hiện tại của năm 2026, đây chắc chắn là một trong những dự án thú vị nhất.













