Pho sử sống giữ 'hồn cốt' nghề vẽ sáp ong của người Mông nơi địa đầu Tổ quốc
Bà Sùng Thị Cở (97 tuổi) đã dành gần trọn cuộc đời gìn giữ và truyền nối kỹ thuật vẽ sáp ong trên vải lanh của đồng bào Mông. Bằng đôi bàn tay co quắp và tình yêu văn hóa tha thiết, bà trở thành một trong những người góp phần lưu giữ, lan tỏa tinh hoa di sản nơi địa đầu cực Bắc Tổ quốc.
Về cao nguyên đá gặp người giữ lửa di sản của đồng bào Mông
Giữa thung lũng đá xám miên man sương giăng của dải đất Lùng Tám - mảnh đất cực Bắc Tổ quốc (thuộc tỉnh Hà Giang cũ, nay thuộc tỉnh Tuyên Quang) có một người phụ nữ Mông đã đi qua gần trọn một thế kỷ gắn bó với nghề chấm sáp ong, một trong những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào Mông nơi địa đầu Tổ quốc.
Bước sang tuổi 97, bà Sùng Thị Cở (xã Lùng Tám) vẫn bền bỉ ngồi đó, bên góc sân, bà lặng lẽ, tỉ mẩn bên chảo sáp ong đun nóng và những tấm vải lanh mộc mạc.
Mái tóc cước bạc như làn sương ôm đỉnh núi, gương mặt in hằn dấu vết thời gian, vậy nhưng sau đôi mắt đã mờ theo năm tháng, hễ cứ tựa tay bên chảo sáp đun nóng, ánh nhìn của bà lại bừng lên vẻ tinh anh.

Bà Sùng Thị Cở (97 tuổi) tại xã Lùng Tám - mảnh đất cao nguyên đá Tuyên Quang
Bất kỳ ai đến và dừng chân bên góc sân nhỏ nơi bà ngồi cũng phải lặng người khi ngắm nhìn đôi bàn tay ấy. Những ngón tay co quắp, bà Cở đã từng sống trong những tháng ngày ngập tràn mặc cảm.
Đôi bàn tay ấy gầy guộc, gồ ghề tựa những nhánh cây rừng khô xơ sau mùa trút lá, các khớp xương gập lại kỳ dị, tưởng chừng làm cản trở cả những sinh hoạt thường nhật.
Thế nhưng, chính đôi tay chịu nhiều thiệt thòi ấy lại điều khiển chiếc bút đồng nhỏ bé lướt thoăn thoắt trên mặt vải lanh, tạo tác nên những họa tiết hoa văn làm say đắm lòng người.
“Ntxiv no yog quav muv uas muab raub kom kub, ces muab los chawm rau saum daim ntaub paj ntaub (Đây là sáp ong đun nóng để chấm vào vải lanh - PV)” - giọng bà Cở trầm ấm, thong thả cất lên bên chảo sáp ong đun sôi cả ngày trên bếp củi.
Ngược dòng thời gian, trở về với những ký ức xa xôi của gần một thế kỷ trước, ngày ấy, bà Cở chỉ là một đứa trẻ 3 tuổi, lon ton chạy theo chân bố mẹ lên nương. Giữa cái rét giá lạnh của vùng cao, hình ảnh người mẹ lặng lẽ ngồi bên khung dệt, tay tước từng vỏ lanh giòn tan rồi tỉ mẩn nối từng sợi nhỏ đã khắc sâu vào ký ức.
Cứ thế, từng ngày từng giờ, hương thơm thanh mộc của sợi lanh khô, mùi ngai ngái nồng nồng của sáp ong đun nóng ngấm dần vào hơi thở, vào nhịp sống của đứa trẻ vùng cao lúc nào chẳng hay.


Với những người làm nghề lâu năm như bà Cở, hoa văn đã in sâu vào tâm trí, họ không cần bản vẽ mẫu, không dùng thước đo, hoàn toàn sáng tạo bằng trí nhớ và kinh nghiệm thực hành
Đồng bào Mông quan niệm rằng, người phụ nữ Mông phải biết se lanh, dệt vải, in sáp vẽ hoa văn trên vải để tự may trang phục cho gia đình. Đó không chỉ là kỹ năng sinh tồn cơ bản mà còn thể hiện sự khéo léo, nét đẹp đức hạnh của người phụ nữ nơi ngàn mây.
Khi đôi chân bắt đầu biết chạy nhảy trên triền dốc, bà Cở đã được mẹ đặt vào tay những sợi lanh đầu tiên. Mẹ cầm tay chỉ từng thao tác tước vỏ sao cho sợi lanh không đứt đoạn, se sợi sao cho tròn đều.
Mãi đến năm 13 tuổi, bà Cở mới chính thức cầm chiếc bút đồng, nhúng vào chảo sáp nóng để bắt đầu hành trình tạo tác những đường nét hoa văn đầu tiên trên mặt vải.
Nét sáp lưu giữ hồn cốt văn hóa
Thế nhưng, công việc vẽ sáp ong đòi hỏi sự khéo léo cao độ khiến bà nhiều lần lo sợ, mặc cảm vì nghĩ mình không thể theo nghề. Bởi nghề vẽ sáp ong vốn đòi hỏi độ tỉ mỉ cực kỳ khắt khe, chỉ một chút xô lệch hay lem nhem là hỏng cả tấm vải lanh công phu.
Đã không biết bao lần chiếc bút đồng tuột khỏi khớp xương gập ghềnh, đĩa sáp nghiêng vãi làm bỏng mu bàn tay, những đường nét dang dở khiến bà càng thêm mặc cảm.
“Nghề này công phu và lắm gian nan lắm, để tạo nên một tấm vải lanh vẽ họa tiết sáp ong hoàn thiện phải trải qua 2 giai đoạn cốt lõi: vẽ họa tiết và nhuộm chàm. Công cụ chế tác tuy mộc mạc gồm chảo sắt nhỏ, bút vẽ, vải lanh, sáp ong, nước chàm... nhưng đòi hỏi quy trình cực kỳ phức tạp cùng sự nhẫn nại”, bà Cở chia sẻ.


Sáp ong được đun liên tục trên bếp củi để nung nóng
Đầu tiên là khâu pha chế "mực", phải chọn loại sáp ong khoái chuẩn, đun trên ngọn lửa vừa rồi tỉ mẩn trộn sáp đen (sáp già) với sáp vàng (sáp non) để tạo ra sắc độ vừa ý. Nếu mực loãng quá thì khi châm bút sáp sẽ chảy nhòe, không vẽ được, nhưng nếu quá sánh thì sáp lập tức vón cục, làm gãy đường nét.
Chiếc bút vẽ cũng vô cùng đặc biệt, không giống bút viết dưới phố mà được ghép từ một thanh tre chẻ gọt khéo léo, gắn hai lá đồng nhỏ kẹp vào nhau, tạo thành khoảng trống ở giữa để lưu giữ sáp nóng hổi, đầu ngòi vát nhọn bám sát thớ vải. Cầm ngọn bút đồng ấy, người thợ phải dẫn vệt sáp chạy thoăn thoắt trên mặt vải thô xơ.
"Khó nhất là sáp ong khô rất nhanh, nhất là khi gặp gió lạnh vùng cao. Nếu đi nét quá chậm, sáp đông cứng làm vỡ họa tiết, còn nếu lỡ tay ấn mạnh hay đi quá nhanh, sáp chảy lem ra vải là coi như toàn bộ vải lanh bị hỏng, không cách nào tẩy xóa", bà Cở chia sẻ thêm.
Thử thách lớn lao ấy càng đè nặng lên đôi bàn tay co quắp, không thể bấm ngón giữ bút như người bình thường của bà Cở. Bà phải tập giữ cán gỗ bằng góc gập của các khớp xương, dùng lực từ cổ tay và cả cánh tay để dẫn đường cho ngọn bút. Trải qua nhiều năm nhẫn nại rèn luyện, không bỏ cuộc, đôi tay ấy đã dần quen với từng thao tác nhỏ.
Với những người làm nghề lâu năm như bà Cở, hoa văn đã in sâu vào tâm trí. Họ không cần bản vẽ mẫu, không dùng thước đo, hoàn toàn sáng tạo bằng trí nhớ và kinh nghiệm thực hành.

Sản phẩm từ vải lanh tại Hợp tác xã Dệt lanh Lùng Tám
Mỗi nét vẽ chấm lên vải là một biểu tượng mang thông điệp thiêng liêng: hình vuông, hình tròn, hình quả trám, đường răng cưa, hình chữ thập, hay hoa đào, hoa bí, hình tượng con người... Tất cả đều gắn liền với đời sống văn hóa của người Mông.
Có hoa văn gửi gắm lời cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng bội thu, có nét vẽ mang ý niệm chúc phúc cho tình duyên, nhưng lại có những hình họa mô phỏng sự hùng vĩ của núi rừng, trời đất.
Sau khi hoàn thành công đoạn vẽ sáp tỉ mẩn, tấm vải lanh được đem luộc trong nước sôi khoảng 3 tiếng đồng hồ để lớp sáp ong tan chảy và bay đi hoàn toàn, sau đó mới tiếp tục đem đi nhuộm chàm và phơi nắng nhiều lần. Tất cả đều làm bằng thủ công, chắt chiu sự kiên nhẫn của người thợ qua bao ngày đêm.
Do đó, trang phục Mông không đơn thuần chỉ để mặc, che mưa che nắng mà chính là nơi chứa đựng hồn cốt dân tộc, lưu giữ ký ức, văn hóa và bản sắc đặc trưng của đồng bào nơi đây. Vì vậy, người Mông dù đi đến bất cứ đâu trên thế giới, chỉ cần nhìn vào bộ váy áo thổ cẩm là nhận ra nhau ngay.
Mỗi đường nét hoa văn sáp ong trên thảm vải chính là một câu chuyện đời, một lời nhắn gửi tâm huyết từ bố mẹ sang con cái, truyền qua biết bao thế hệ.
Bảo tồn nghề trong đời sống mới
Nhiều năm trôi qua, người phụ nữ chịu nhiều khiếm khuyết ấy nay đã trở thành mẹ của 5 người con (1 gái và 4 trai), hiện bà đang sống bình yên bên gia đình người con trai út.
Gắn bó với nghề chấm sáp ong suốt 84 năm cần mẫn ròng rã, cô gái mặc cảm năm xưa trở thành người thợ nổi tiếng bậc nhất vùng. Nhiều lần bà Cở đã được vinh dự mời về Hà Nội để trình diễn nghệ thuật vẽ họa tiết bằng sáp ong tại các bảo tàng và chương trình văn hóa lớn.

Nhiều du khách tìm đến chiêm ngưỡng quy trình vẽ sáp ong và chụp ảnh cùng người nghệ nhân gần trăm năm tuổi
Với những giá trị văn hóa lâu đời và ý nghĩa sâu sắc trong thực tiễn đời sống, kỹ thuật trồng lanh và dệt vải lanh của người Mông ở Lùng Tám, huyện Quản Bạ khi đó đã được Bộ VHTTDL chính thức công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia vào tháng 1.2016. Sự công nhận di sản ấy cũng có phần đóng góp âm thầm nhưng bền bỉ suốt hàng chục năm qua của những nghệ nhân lão thành như bà Cở.
Mỗi khi chạm tay vào từng thảm vải thổ cẩm đậm đà bản sắc, vị nghệ nhân già lại gửi gắm tâm nguyện sâu sắc về nguồn cội: “Cần phải gìn giữ và bảo tồn giá trị văn hóa cổ đại nhất của các cụ, các bà từ xưa đến nay, bốn nghìn năm về trước. Hiện nay, các cụ đã không còn nhưng giữ lại được cái tâm hồn, cái trí, bàn tay và khối óc của những người xưa. Những người còn đang sống phải luôn luôn gìn giữ và bảo tồn, dạy cho thế hệ trẻ ngày nay”.
Khi nhịp sống hiện đại âm thầm len lỏi về bản làng, kéo theo những mặt hàng may sẵn tràn ngập khắp các chợ phiên với giá rẻ và sự tiện lợi nhanh chóng, giữa guồng quay ấy, ngày càng ít người trẻ mặn mà với từng thoi lanh, đĩa sáp.
Thế nhưng, vị nghệ nhân già vẫn một lòng gắn bó với từng tấm vải lanh, đĩa sáp bởi với bà, mỗi tấm vải dệt tay tinh xảo không chỉ là manh áo che mưa che nắng mà còn là báu vật chứa đựng ký ức và bản sắc muôn đời của người Mông.
Trao đổi với PV Văn Hóa, bà Vàng Thị Mai, Chủ tịch Hợp tác xã Dệt lanh Lùng Tám đánh giá về người thợ lão thành của cơ sở: “Năm 2003, cụ Sùng Thị Cở chính thức được phong tặng danh hiệu Nghệ nhân nhờ những cống hiến xuất sắc cho nghề truyền thống. Cụ Cở rất hiền lành, giản dị, nhiệt tình và giàu lòng yêu nghề. Nhiều năm qua, cụ đã miệt mài góp phần truyền dạy kinh nghiệm cho thế hệ trẻ với mong muốn thiết tha là giữ lại trọn vẹn nét văn hoá độc đáo của người Mông”.

Bà Vàng Thị Mai giới thiệu sản phẩm từ vải lanh cho du khách
Ở tuổi 97, sức khỏe suy giảm làm cơ thể bà Cở không tránh khỏi những cơn đau nhức khi trở trời, thế nhưng, khi nhắc đến khó khăn tuổi tác, bà lại mỉm cười xua tay nhẹ nhàng: “Khi tôi ở nhà, không nhìn thấy bạn bè thì thấy yếu. Nhưng khi ra đây làm, nhìn thấy bạn bè thì cảm giác như ăn được cơm và khỏe ra”.
Việc mang văn hóa, trí tuệ cùng đôi bàn tay khéo léo giới thiệu với cộng đồng và du khách quốc tế trở thành nguồn niềm vui vô bờ giúp bà quên đi mệt mỏi.
Góc sân nơi bà ngồi giờ đây trở thành một không gian du lịch văn hóa giàu trải nghiệm cho du khách ghé thăm. Khách du lịch trong và ngoài nước tìm đến mỗi lúc một đông để được tận mắt chiêm ngưỡng quy trình tạo tác thổ cẩm thủ công.
Đôi bàn tay co quắp run run nhưng vẫn thoăn thoắt chấm bút đồng vào chảo sáp nóng, bà niềm nở giới thiệu từng đường nét hoa văn cho những vị khách phương xa như một cách thắp sáng niềm tự hào bản địa.

Phóng viên có mặt tại Hợp tác xã Dệt lanh Lùng Tám để "mục sở thị" quy trình dệt lanh cũng như nghệ thuật chấm sáp ong độc đáo
Sự lan tỏa mạnh mẽ trên các nền tảng mạng xã hội đưa hình ảnh vị nghệ nhân già trở thành biểu tượng văn hóa đặc sắc của vùng cao.
Đứng trước tình cảm và sự quan tâm của cộng đồng, đôi mắt bà đong đầy niềm hạnh phúc mộc mạc: “Những người cùng tuổi tôi đã đi suối vàng hết rồi mà tôi vẫn còn sống, vẫn nhìn thấy khách Tây, khách Việt và người ta vẫn gọi tên, tôi rất là hạnh phúc”.
84 năm gắn chặt cuộc đời mình với những nếp lanh và dòng sáp chảy, đôi bàn tay co quắp từng khiến bà Cở mặc cảm năm xưa nay đã trở thành đôi tay góp phần gìn giữ di sản.
