Phó Thủ tướng: Đưa chính sách khoa học công nghệ vào cuộc sống còn chậm

Nếu tiếp tục duy trì tình trạng bất cập, chúng ta sẽ không thể tạo ra động lực tăng trưởng từ KHCN và đổi mới sáng tạo.

Nhiều đề tài nghiên cứu ít bắt nguồn từ thực tế

Ngày 23/10/2026, tại Trụ sở Văn phòng Chính phủ, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN dưới sự chủ trì của Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng. Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đồng chủ trì phiên trao đổi, giải đáp.

Hội nghị được tổ chức theo hình thức trực tiếp kết hợp trực tuyến, với sự tham dự của đại diện các bộ, ngành, địa phương, viện nghiên cứu, trường đại học và cộng đồng doanh nghiệp.

Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN. Ảnh: PV

Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN. Ảnh: PV

Phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị, Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng cho biết, từ khi có Nghị quyết 57 của Bộ Chính trị, Đảng và Nhà nước ta đã dành sự quan tâm đặc biệt, ban hành nhiều chủ trương, cơ chế, chính sách để thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, xem khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực tăng trưởng mới của đất nước trong kỷ nguyên mới nhằm đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số

Đến nay, thể chế và chính sách đã được xây dựng theo hướng chuyển biến mạnh mẽ tư duy quản lý: Từ kiểm soát quy trình đầu vào sang quản lý kết quả và sản phẩm đầu ra, chấp nhận rủi ro; Từ ban hành chủ trương, giao nhiệm vụ sang tổ chức thực hiện, đo lường kết quả và đánh giá tác động; Chuyển từ quản lý hành chính thuần túy sang kiến tạo hệ sinh thái và lấy doanh nghiệp làm trung tâm của phát triển.

Nhiều cơ chế, chính sách ban hành trong thời gian qua đã tạo nền tảng vượt trội thúc đẩy khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tuy nhiên, việc đưa chính sách vào cuộc sống còn chậm, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu và phát triển khoa học công nghệ. Trong đó, điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là sự liên kết chưa chặt chẽ giữa một bên là Nhà nước, các cơ sở nghiên cứu và bên còn lại là cộng đồng doanh nghiệp và thị trường.

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị sáng ngày 23/10. Ảnh: PV

Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị sáng ngày 23/10. Ảnh: PV

"Chúng ta nói nhiều về điều này nhưng chưa thực chất, còn rất nhiều tồn tại. Nhiều đề tài, nhiệm vụ nghiên cứu ít bắt nguồn từ yêu cầu thực tế của nền kinh tế hay nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường", Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nhấn mạnh.

Các số liệu minh chứng cho thực trạng này được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đưa ra là: Giai đoạn 2021–2025, chỉ có khoảng 12% nhiệm vụ khoa học công nghệ cấp quốc gia và 11% ở cấp địa phương có sự tham gia của doanh nghiệp. Đối với các quỹ tài trợ khoa học công nghệ, sự tham gia của doanh nghiệp rất thấp, chỉ khoảng 6% trong năm 2025. Hầu hết các đề tài nghiên cứu không kết nối được với doanh nghiệp, không ra được thị trường.

Chi phí nghiên cứu và phát triển (R&D) của doanh nghiệp dành cho các trường đại học chỉ chiếm 0,72% tổng chi phí R&D của doanh nghiệp, và số kinh phí này chỉ đóng góp 2,1% tổng kinh phí R&D trên thị trường. Mức chi R&D của khu vực doanh nghiệp Việt Nam chỉ bằng 0,3% GDP, trong khi ở Trung Quốc là 2,1% và Hàn Quốc là 4,2%

Lực lượng nghiên cứu ở các trường rất lớn (khoảng 21.000 tiến sĩ), nhưng số nhà nghiên cứu có bằng tiến sĩ làm việc tại các doanh nghiệp chỉ dừng lại ở 333 người. Trong giai đoạn 2021–2025, Việt Nam chỉ cấp 703 bằng sáng chế cho doanh nghiệp trong nước, trong khi các doanh nghiệp nước ngoài được cấp tới 24.000 bằng sáng chế (gấp 35 lần). Chúng ta có 20 sàn giao dịch công nghệ với 62.000 công nghệ chào bán, nhưng chỉ có 750 nhà đầu tư, doanh nghiệp tìm hiểu và thực tế chỉ giao dịch thành công 72 công nghệ.

"Nếu tiếp tục duy trì tình trạng bất cập này, chúng ta sẽ không thể tạo ra động lực tăng trưởng từ khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo", Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng nêu.

Do đó, 3 nhóm vấn đề trọng tâm được Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng đưa ra là:

Rà soát thể chế, chính sách: Đánh giá những điểm nghẽn hiện nay trong các quy định do Chính phủ ban hành. Chính phủ sẵn sàng tiếp thu các bất cập hợp lý để tháo gỡ về thể chế, cơ chế tài chính, cơ chế tham gia và thương mại hóa sản phẩm khoa học công nghệ.

Làm rõ nguyên nhân: Trả lời trực diện câu hỏi vì sao trong thời đại khoa học công nghệ, doanh nghiệp lại chưa mặn mà với các kết quả nghiên cứu của viện, trường, và vì sao các sản phẩm nghiên cứu lại không đến được với doanh nghiệp hay ra được thị trường?

Đề xuất giải pháp liên kết thực chất: Đưa ra giải pháp để mối liên kết giữa Nhà nước - Nhà trường - Doanh nghiệp đi vào chiều sâu, phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đưa công nghệ ra thị trường tạo ra sản phẩm và đóng góp cho tăng trưởng đất nước.

Vướng mắc ở cách tổ chức hợp tác

Bộ KH&CN cho biết, thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, các cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đã được sửa đổi theo hướng tăng quyền chủ động, chia sẻ rủi ro và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu. Những thay đổi này mở thêm điều kiện để viện, trường và doanh nghiệp cùng giải quyết bài toán thực tiễn, đưa kết quả nghiên cứu vào sản xuất, kinh doanh.

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng các văn bản hướng dẫn đã tạo cơ sở tổ chức nhiệm vụ theo mục tiêu, kết quả và nhu cầu ứng dụng. Nhiệm vụ phát triển công nghệ phải có bên cam kết tiếp nhận, ứng dụng, thương mại hóa hoặc tham gia thực hiện theo quy định. Với phần kinh phí khoán chi, tổ chức, cá nhân chủ trì được chủ động lựa chọn nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ. Nhiệm vụ không đạt mục tiêu nhưng đáp ứng đầy đủ điều kiện luật định không phải hoàn trả phần kinh phí đã sử dụng đúng mục tiêu, phạm vi.

Cơ chế giao quyền đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cũng được đổi mới theo hướng tự động giao quyền cho tổ chức chủ trì theo từng nhóm chủ thể và các ngoại lệ luật định; mở rộng quyền quyết định hình thức, phương án, giá thương mại hóa và phân chia lợi ích. Doanh nghiệp được sử dụng quỹ phát triển KH&CN để đặt hàng, thuê nghiên cứu, tiếp nhận công nghệ, hợp tác với viện, trường và vận hành phòng thí nghiệm chung. Các chính sách thuế, đồng tài trợ, hỗ trợ đổi mới công nghệ, nhân lực và hạ tầng dùng chung bổ sung điều kiện để các bên hợp tác lâu dài.

Đối với nhà khoa học, các cơ chế mới tạo điều kiện làm việc tại doanh nghiệp, góp vốn, tham gia quản lý doanh nghiệp và hình thành doanh nghiệp khởi nguồn từ nghiên cứu theo đối tượng, điều kiện quy định. Hoạt động thử nghiệm, kiểm định, chứng nhận và kết nối thị trường có thêm công cụ hỗ trợ, giúp tiếp nối quá trình từ nghiên cứu đến ứng dụng.

Trên thực tế, hợp tác giữa viện, trường và doanh nghiệp đã tạo ra những công nghệ, sản phẩm có hiệu quả cụ thể. Năm 2026, Viettel và Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã bàn giao, ứng dụng kết quả ba nhiệm vụ: trợ lý lập trình CoDev, mô hình ngôn ngữ viễn thông TelcoLLM và nền tảng AI Platform. Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô phối hợp với Công ty Giấy Sông Đuống giúp giảm 10,8% điện năng tiêu thụ, tăng 5,09% tốc độ máy xeo.

Viện Nghiên cứu Cơ khí phối hợp với các trường đại học và doanh nghiệp làm chủ thiết kế, chế tạo bảy hệ thống thiết bị phụ cho tổ máy nhiệt điện than công suất đến khoảng 600 MW, ứng dụng tại các nhà máy Sông Hậu 1, Thái Bình 1 và Nghi Sơn 2. Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long chuyển giao giống OM 18 và OM 9577 cho Tập đoàn Lộc Trời với mức chi trả cho Viện 200 đồng/kg giống bán ra, gắn lợi ích của bên nghiên cứu với kết quả tiêu thụ. Đây là các kết quả tích lũy qua nhiều năm và hoạt động gần đây, cho thấy khả năng tạo giá trị của hợp tác nghiên cứu.

Giai đoạn 2021–2025, trong số 1.451 nhiệm vụ cấp quốc gia được tổng hợp, doanh nghiệp chủ trì 181 nhiệm vụ, chiếm 12,5%; kinh phí các nhiệm vụ này chiếm 25,7% tổng kinh phí của nhóm nhiệm vụ được tổng hợp. Những mô hình hiệu quả cho thấy hợp tác có thể duy trì khi doanh nghiệp có bài toán rõ, đội ngũ tiếp nhận và cam kết đầu tư; viện, trường tham gia giải quyết yêu cầu thực tế; nguồn lực được tiếp nối đến khâu ứng dụng.

Theo Bộ KH&CN, vướng mắc không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở cách tổ chức hợp tác. Doanh nghiệp tham gia muộn khiến tính năng, giá thành và khả năng tích hợp chưa được thống nhất từ đầu; kết quả nghiên cứu thiếu dữ liệu vận hành, tiêu chuẩn, chứng nhận và vốn hoàn thiện. Các bên còn lúng túng về định giá, quyền khai thác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm khi thử nghiệm. Sản phẩm mới khó tìm khách hàng đầu tiên, trong khi hiệu quả sau nghiệm thu chưa được theo dõi thường xuyên.

Từ những vấn đề này, Bộ KH&CN xác định yêu cầu trọng tâm là đưa các cơ chế mới vào thực tế, duy trì hợp tác từ hình thành bài toán đến khi công nghệ được sử dụng. Nhà nước kiến tạo điều kiện, hỗ trợ và chia sẻ rủi ro theo quy định; viện, trường phát triển giải pháp; doanh nghiệp xác định nhu cầu, cùng đầu tư, tiếp nhận và thương mại hóa. 

Các giải pháp tập trung gồm: Đo lường kết quả liên kết bằng 10 chỉ số, khai thác dữ liệu sẵn có; Đồng tài trợ theo vốn doanh nghiệp thực góp; Gắn phân bổ kinh phí cho viện, trường với kết quả hợp tác và chuyển giao công nghệ; Nâng cao năng lực tiếp nhận của doanh nghiệp; Tạo lập thị trường ban đầu cho sản phẩm mới; Phát huy vai trò tổ chức trung gian, cụ thể hóa quyền tự chủ trong nghiên cứu và chuyển giao công nghệ...

Tô Hội

Nguồn SK&ĐS: https://suckhoedoisong.vn/pho-thu-tuong-dua-chinh-sach-khoa-hoc-cong-nghe-vao-cuoc-song-con-cham-16926102311035222.htm