Vì sao 83 công nghệ chào bán mới có 1 nhu cầu tìm mua?

Việt Nam có khoảng 62.548 công nghệ chào bán trên các sàn giao dịch nhưng chỉ ghi nhận 750 nhu cầu tìm mua. Thực trạng này cho thấy khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường vẫn lớn, đòi hỏi cơ chế hợp tác mới để đưa công nghệ ra thị trường.

Doanh nghiệp chủ trì 12,5% nhiệm vụ khoa học cấp quốc gia

Ngày 23/10, Bộ Khoa học và Công nghệ (KH&CN) phối hợp với Văn phòng Chính phủ tổ chức Hội nghị toàn quốc thúc đẩy liên kết viện nghiên cứu, trường đại học với cộng đồng doanh nghiệp trong nghiên cứu, phát triển KH&CN.

Hội nghị do Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng chủ trì, Bộ trưởng Bộ KH&CN Vũ Hải Quân đồng chủ trì phiên trao đổi, giải đáp.

Theo Nghị quyết 57, các cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được điều chỉnh theo hướng tăng quyền chủ động, chia sẻ rủi ro và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu.

Luật Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo cùng các văn bản hướng dẫn tạo cơ sở để tổ chức nhiệm vụ theo mục tiêu, kết quả và nhu cầu ứng dụng.

Với nhiệm vụ phát triển công nghệ, phải có bên cam kết tiếp nhận, ứng dụng, thương mại hóa hoặc tham gia thực hiện theo quy định.

Cơ chế giao quyền đối với kết quả nghiên cứu sử dụng ngân sách nhà nước cũng được đổi mới, mở rộng quyền quyết định hình thức thương mại hóa và phân chia lợi ích.

Doanh nghiệp có thể sử dụng quỹ phát triển KH&CN để đặt hàng nghiên cứu, thuê chuyên gia, tiếp nhận công nghệ và hợp tác với viện, trường.

Tuy nhiên, khoảng cách giữa chính sách và thực tiễn vẫn đáng kể. Giai đoạn 2021-2025, trong 1.451 nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia được tổng hợp, doanh nghiệp chủ trì 181 nhiệm vụ, chiếm 12,5%. Kinh phí dành cho các nhiệm vụ này chiếm 25,7% tổng kinh phí của nhóm nhiệm vụ được thống kê.

Theo Chỉ số Đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII) năm 2026 của Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Việt Nam xếp thứ 24 về hợp tác nghiên cứu và phát triển giữa đại học với doanh nghiệp, trong khi Singapore đứng thứ 8.

Năm 2024, tỷ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt 34,6%, nhưng chỉ 6,7% doanh nghiệp nhỏ có bộ phận nghiên cứu và phát triển.

Trong số 991 doanh nghiệp được cấp Giấy chứng nhận doanh nghiệp KH&CN, chỉ có 27 doanh nghiệp hình thành từ kết quả nghiên cứu của viện, trường, tương đương khoảng 2,7%.

Theo Nghị quyết 57, các cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được điều chỉnh theo hướng tăng quyền chủ động, chia sẻ rủi ro và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu.

Theo Nghị quyết 57, các cơ chế, chính sách về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo đang được điều chỉnh theo hướng tăng quyền chủ động, chia sẻ rủi ro và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu.

Thị trường công nghệ còn khoảng cách lớn giữa cung và cầu

Một trong những điểm nghẽn đáng chú ý là sự lệch pha giữa công nghệ được chào bán và nhu cầu thực tế của doanh nghiệp.

Đến ngày 22/8/2026, các sàn giao dịch được tổng hợp có khoảng 62.548 công nghệ chào bán nhưng chỉ có 750 nhu cầu tìm mua, tương đương khoảng 83 công nghệ chào bán trên một nhu cầu.

Từ tháng 1 đến tháng 8/2026, các sàn ghi nhận 72 giao dịch thành công, tổng giá trị 11,233 tỷ đồng. Các số liệu này chỉ phản ánh phạm vi báo cáo của những sàn được tổng hợp, chưa bao quát toàn bộ thị trường công nghệ.

Năng lực đầu tư nghiên cứu của doanh nghiệp Việt Nam cũng còn hạn chế. Theo số liệu GII 2026, chi nghiên cứu và phát triển do khu vực doanh nghiệp thực hiện tương đương 0,3% GDP, thấp hơn Singapore với 1,3%, Trung Quốc với 2,1% và Hàn Quốc với 4,2%.

Nhà nghiên cứu làm việc trong doanh nghiệp chiếm 27,5% tổng số nhà nghiên cứu của Việt Nam. Điều này cho thấy yêu cầu tăng cường năng lực nghiên cứu, tiếp nhận và làm chủ công nghệ ngay tại khu vực sản xuất, kinh doanh.

Theo Bộ KH&CN, vướng mắc không chỉ nằm ở nguồn vốn mà còn ở cách thức tổ chức hợp tác. Doanh nghiệp thường tham gia muộn, khiến yêu cầu về tính năng, giá thành và khả năng tích hợp chưa được thống nhất từ đầu.

Nhiều kết quả nghiên cứu còn thiếu dữ liệu vận hành, tiêu chuẩn, chứng nhận và nguồn vốn để hoàn thiện sản phẩm.

Các bên cũng gặp khó trong định giá công nghệ, xác định quyền khai thác, chia sẻ lợi ích và trách nhiệm khi thử nghiệm. Sản phẩm mới thiếu khách hàng đầu tiên, trong khi hiệu quả sau nghiệm thu chưa được theo dõi thường xuyên.

Đề xuất 6 nhóm giải pháp, triển khai từ quý IV/2026

Thực tế cho thấy liên kết viện, trường và doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị cụ thể nếu các bên cùng tham gia từ đầu và duy trì hợp tác đến khi sản phẩm được ứng dụng.

Năm 2026, Viettel và Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội đã bàn giao, ứng dụng kết quả ba nhiệm vụ gồm trợ lý lập trình CoDev, mô hình ngôn ngữ viễn thông TelcoLLM và nền tảng AI Platform.

Trong lĩnh vực công nghiệp giấy, Viện Công nghiệp Giấy và Xenluylô phối hợp với Công ty Giấy Sông Đuống giúp giảm 10,8% điện năng tiêu thụ và tăng 5,09% tốc độ máy xeo.

Viện Nghiên cứu Cơ khí cùng các trường đại học, doanh nghiệp làm chủ thiết kế, chế tạo bảy hệ thống thiết bị phụ cho tổ máy nhiệt điện than công suất đến khoảng 600 MW, ứng dụng tại các nhà máy Sông Hậu 1, Thái Bình 1 và Nghi Sơn 2.

Ở lĩnh vực nông nghiệp, Viện Lúa đồng bằng sông Cửu Long chuyển giao giống OM 18 và OM 9577 cho Tập đoàn Lộc Trời, với mức chi trả cho Viện 200 đồng/kg giống bán ra. Cơ chế này gắn lợi ích của đơn vị nghiên cứu với kết quả tiêu thụ sản phẩm.

Từ những kết quả và điểm nghẽn trên, Bộ KH&CN xác định sáu nhóm giải pháp trọng tâm: đo lường kết quả liên kết bằng 10 chỉ số dựa trên dữ liệu sẵn có; đồng tài trợ theo vốn doanh nghiệp thực góp; gắn phân bổ kinh phí cho viện, trường với kết quả hợp tác và chuyển giao; nâng cao năng lực tiếp nhận công nghệ của doanh nghiệp; tạo lập thị trường ban đầu cho sản phẩm mới; phát huy vai trò của tổ chức trung gian và cụ thể hóa quyền tự chủ trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ.

Bộ KH&CN đề xuất Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành, địa phương và chủ thể liên quan triển khai nhiệm vụ từ quý IV/2026.

Trong đó, Bộ KH&CN tháo gỡ vướng mắc, ban hành bộ chỉ số, hỗ trợ hoàn thiện và chứng nhận sản phẩm; Bộ Giáo dục và Đào tạo thúc đẩy cơ chế đối với giảng viên tham gia doanh nghiệp spin-off và đào tạo sau đại học theo đặt hàng; Bộ Tài chính hướng dẫn đặt hàng, mua sắm công sản phẩm KH&CN mới và chia sẻ dữ liệu liên quan.

Các bộ, ngành, địa phương được đề nghị xây dựng danh mục bài toán công nghệ, thí điểm đặt hàng và đồng tài trợ, hoàn thiện quy chế khai thác, định giá, góp vốn và đầu mối chuyển giao.

Các tập đoàn, tổng công ty nhà nước được kỳ vọng chủ động đặt hàng, thử nghiệm và trở thành khách hàng đầu tiên của sản phẩm KH&CN mới.

Mục tiêu đặt ra là chuyển từ hợp tác theo từng nhiệm vụ riêng lẻ sang liên kết xuyên suốt, trong đó doanh nghiệp xác định nhu cầu và tham gia đầu tư, viện trường phát triển giải pháp, còn Nhà nước kiến tạo điều kiện và chia sẻ rủi ro theo quy định.

Đây là hướng đi nhằm thu hẹp khoảng cách giữa nghiên cứu và thị trường, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực KH&CN

Thái Khang

Nguồn VietnamNet: https://vietnamnet.vn/vi-sao-83-cong-nghe-chao-ban-moi-co-mot-nhu-cau-tim-mua-2567693.html