Phó Thủ tướng Hồ Quốc Dũng: Hướng ra biển, nâng tầm sức mạnh quốc gia



Tuyến bài 5 kỳ "Mạnh về biển, phát triển bền vững từ biển" trên Báo Sài Gòn Giải Phóng
. Phóng viên: Xin Phó Thủ tướng cho biết Chính phủ hiện ưu tiên những giải pháp nào trong việc triển khai Nghị quyết 20-NQ/TW, Nghị quyết 218/NQ-CP về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh??
+ Phó Thủ tướng Chính phủ Hồ Quốc Dũng: Nghị quyết 20-NQ/TW của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương đã mở ra một bước phát triển mới trong tư duy về biển: Từ phát triển kinh tế biển sang xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; từ khai thác tài nguyên biển sang quản trị tổng hợp, thống nhất không gian biển; từ phát triển theo từng ngành, từng lĩnh vực sang phát triển một không gian biển hiện đại, xanh, thông minh, bền vững, gắn chặt với quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế. Nghị quyết số 218/NQ-CP của Chính phủ đặt mục tiêu thể chế hóa và tổ chức triển khai thực hiện đầy đủ, kịp thời các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết 20-NQ/TW; cụ thể hóa Chương trình hành động của Bộ Chính trị thành các nhiệm vụ quản lý, điều hành của Chính phủ, bảo đảm rõ nội dung, cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, kết quả/đánh giá và thời hạn hoàn thành; xác định những nhiệm vụ trọng tâm, có tính đột phá trong giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2045 để các bộ, ngành, địa phương xây dựng kế hoạch thực hiện; lồng ghép với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, đầu tư công, tài chính - ngân sách, quy hoạch và chương trình công tác hằng năm.

Ảnh: XUÂN HUYÊN, NGỌC OAI
Qua loạt bài “Mạnh về biển, phát triển bền vững từ biển” của Báo Sài Gòn Giải Phóng, có thể thấy một vấn đề đặt ra đối với nước ta hiện nay là làm thế nào để chuyển tiềm năng, lợi thế biển thành động lực phát triển và giá trị gia tăng thực chất cho nền kinh tế. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những kết quả đạt được, việc phát triển kinh tế biển ở một số nơi vẫn chưa khai thác thực sự hiệu quả lợi thế về tài nguyên, vị trí địa kinh tế và không gian biển; các ngành kinh tế biển chưa được kết nối chặt chẽ thành các chuỗi giá trị; hạ tầng, logistics và công nghiệp chế biến chưa theo kịp yêu cầu; việc tổ chức, quản lý và sử dụng không gian biển còn những bất cập; giá trị văn hóa, sinh thái biển chưa được phát huy tương xứng. Trong khi đó, yêu cầu đặt ra không chỉ là phát triển các ngành kinh tế biển có lợi thế, mà còn phải thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển các ngành kinh tế biển mới, bảo vệ môi trường và hệ sinh thái biển, gắn phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao đời sống của người dân vùng biển, đảo. Đây cũng là những định hướng lớn mà Nghị quyết số 20-NQ/TW đề cập, Nghị quyết số 218/NQ-CP tập trung cụ thể hóa nhằm tạo chuyển biến căn bản trong tư duy, phương thức quản lý và tổ chức phát triển, đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
. Cụ thể, Chính phủ tập trung vào những khâu đột phá nào để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, thưa Phó Thủ tướng?
+ Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta cần tập trung vào một số khâu đột phá có tính nền tảng và sức lan tỏa lớn. Thứ nhất, đột phá về thể chế và quản trị không gian biển. Đây là điều kiện tiên quyết để khơi thông các nguồn lực. Chính phủ đã trình Quốc hội xem xét thông qua dự án Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo (sửa đổi) tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI vào cuối năm 2026; tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực có liên quan. Đồng thời, tập trung kiện toàn cơ quan đầu mối thống nhất quản lý, điều phối các hoạt động trên biển. Mục tiêu là hình thành một cơ chế quản trị biển thống nhất, liên ngành, liên vùng, rõ trách nhiệm; đồng thời làm rõ cơ chế giao, cho thuê, sử dụng, khai thác không gian biển, nghĩa vụ tài chính và xử lý xung đột trong sử dụng biển. Cùng với thể chế, Quy hoạch không gian biển quốc gia sẽ được rà soát, cập nhật, điều chỉnh trong năm 2027, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, kết nối giữa không gian đất liền, biển, vùng trời và các không gian phát triển mới; đặt mục tiêu phải hoàn thành 100% phân vùng chức năng không gian biển cho các ngành kinh tế biển và các địa phương có biển. Đây là cơ sở để xác định rõ không gian dành cho bảo tồn, cảng biển, logistics, nuôi biển, năng lượng ngoài khơi, du lịch, quốc phòng - an ninh và các ngành kinh tế mới; qua đó xử lý chồng lấn, giảm rủi ro cho nhà đầu tư và sử dụng không gian biển tiết kiệm, hiệu quả.

Chế biến cá ngừ đại dương tại Phú Yên. Ảnh: HUỲNH HẢI
Thứ hai, phải tổ chức lại không gian phát triển theo các trung tâm, hành lang, cụm ngành và chuỗi giá trị, thay vì phân tán theo từng dự án. Một cảng biển không thể mạnh nếu phía sau không có logistics, công nghiệp, đường sắt, đường bộ, nguồn hàng và dịch vụ hàng hải. Nuôi biển không thể tạo giá trị cao nếu thiếu giống, công nghệ, chế biến, bảo quản, truy xuất nguồn gốc và thị trường. Du lịch biển không chỉ là bãi biển và phòng nghỉ mà phải gắn với di sản, văn hóa, ẩm thực, thương mại, giải trí và công nghệ. Chính vì vậy, đến năm 2030, Nghị quyết 218/NQ-CP đặt mục tiêu hình thành 5 - 6 trung tâm kinh tế biển mạnh, 5 - 6 trung tâm logistics hiện đại ngang tầm quốc tế và 3 khu kinh tế đặc biệt. Thực tiễn đang xuất hiện những mô hình có thể tham khảo. Tại Dung Quất, đang hình thành Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia theo hướng tích hợp lọc hóa dầu, LNG, điện, năng lượng tái tạo, logistics và các công nghệ mới như hydro xanh, amoniac xanh, thu giữ carbon. Cụm cảng Hải Phòng tiếp tục phát huy lợi thế cửa ngõ tại khu vực phía Bắc. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, dự án Cảng trung chuyển quốc tế Cần Giờ đã được chấp thuận nhà đầu tư; định hướng không chỉ là một cảng lớn mà phải gắn với Cái Mép - Thị Vải, logistics, công nghiệp, thương mại và hệ thống giao thông hậu phương; gần đây, hai cảng nước sâu tại Cái Mép - Thị Vải cũng đã đưa bến chung vào khai thác, cho thấy hiệu quả của tư duy chia sẻ hạ tầng và tối ưu hóa cả cụm cảng thay vì mỗi cảng phát triển riêng lẻ.
Thứ ba, phải tạo đột phá về hạ tầng và huy động nguồn lực. Nhà nước cần tập trung vào các hạ tầng nền tảng, dùng chung và có sức lan tỏa lớn; đầu tư công phải đóng vai trò dẫn dắt để huy động mạnh hơn vốn tư nhân, hợp tác công tư, tài chính xanh và các nguồn lực quốc tế. Cảng biển phải kết nối đồng bộ với đường bộ, đường sắt, đường thủy nội địa, sân bay và trung tâm logistics. Hạ tầng cho điện gió ngoài khơi, nuôi biển công nghệ cao, cáp ngầm, dữ liệu biển, các đảo và đặc khu cũng phải được chuẩn bị từ sớm. Mục tiêu đến năm 2030 chúng ta nghiên cứu phát triển 6 - 10 GW điện gió ngoài khơi, hoàn thành tuyến đường bộ ven biển theo quy hoạch và tiếp tục hình thành các cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, trung tâm công nghiệp, logistics, năng lượng và đổi mới sáng tạo.

Khu nuôi trồng thủy hải sản khép kín, chuẩn bị giống để vươn khơi nuôi biển bên vịnh Xuân Đài (thuộc xã Xuân Lộc, tỉnh Đắk Lắk). Ảnh: NGỌC OAI
Thứ tư, tạo chuyển biến thực chất về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Đây phải là động lực quan trọng để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của kinh tế biển. Mỗi tấn thủy sản phải tạo ra giá trị lớn hơn nhờ bảo quản, chế biến và truy xuất nguồn gốc; mỗi hecta mặt biển phải được sử dụng hiệu quả hơn nhờ công nghệ; mỗi cảng biển phải thông minh hơn; mỗi điểm đến phải tạo được nhiều trải nghiệm và giá trị văn hóa hơn. Trong giai đoạn 2026 - 2027, Chính phủ yêu cầu xây dựng, hoàn thiện, tích hợp và khai thác hiệu quả dữ liệu biển quốc gia, bản đồ số biển và đại dương, nền tảng chia sẻ dữ liệu trên nguyên tắc “đúng”, “đủ”, “sạch”, “sống” và “dùng chung”; đồng thời đẩy mạnh điều tra cơ bản, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, công nghệ quan trắc và hệ thống giám sát biển thông minh. Đây chính là “hạ tầng mềm” cho quản trị biển hiện đại.
Thứ năm, mọi quy hoạch, chiến lược, chương trình phát triển đất nước đều phải phục vụ yêu cầu bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia.Chúng ta phải kết hợp chặt chẽ phát triển cảng biển, năng lượng, hạ tầng số, đảo và đặc khu với xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân và thế trận lòng dân trên biển; coi trọng hạ tầng lưỡng dụng, năng lực nghiên cứu, quan trắc, dự báo, cảnh báo và tìm kiếm cứu nạn. Phải bảo đảm an ninh, an toàn cho người dân, cho các hoạt động kinh tế hợp pháp và các công trình biển trọng yếu; xây dựng lực lượng quản lý, bảo vệ, thực thi pháp luật trên biển chính quy, tinh nhuệ, hiện đại. Bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên biển phải gắn với duy trì môi trường hòa bình, ổn định để phát triển; giải quyết bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Phát triển kinh tế phải góp phần củng cố tiềm lực bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; ngược lại, quốc phòng, an ninh vững chắc tạo điều kiện để người dân, doanh nghiệp yên tâm đầu tư và bám biển lâu dài.

Hai tàu cá ngư dân tỉnh Gia Lai đang liên kết đánh bắt cá ngừ bằng đèn chiếu sáng biển thuộc vùng biển Trường Sa. Ảnh: XUÂN HUYÊN
Thứ sáu, đẩy mạnh hội nhập và hợp tác quốc tế về biển, đại dương. Hợp tác không chỉ để thu hút vốn, mà còn để tiếp cận tri thức, công nghệ khảo sát biển sâu, năng lượng ngoài khơi, quản trị cảng biển xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, thích ứng với biến đổi khí hậu và phát triển nguồn nhân lực. Chúng ta tiếp tục chủ động, tích cực tham gia các cơ chế hợp tác, quản trị biển, đại dương ở khu vực và toàn cầu trên cơ sở luật pháp quốc tế.
Thứ bảy, phát triển kinh tế biển phải gắn chặt với bảo vệ môi trường, hệ sinh thái và văn hóa biển, phải đặc biệt chú trọng việc hiện thực hóa quyền tiếp cận biển của người dân trong các hoạt động kinh tế- xã hội. Phát triển phải xanh, bền vững và người dân được hưởng lợi. Không thể trở thành quốc gia biển mạnh nếu nguồn lợi thủy sản suy kiệt, hệ sinh thái bị tổn thương hoặc bỏ qua lợi ích cộng đồng, người dân ven biển vẫn chưa thể sống tốt, sống hạnh phúc từ biển. Vì vậy, phát triển kinh tế phải đi cùng chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), phục hồi hệ sinh thái, mở rộng và quản lý hiệu quả khu bảo tồn biển, kiểm soát rác thải nhựa, thích ứng với biến đổi khí hậu và chuyển đổi sinh kế. Nghị quyết 218/NQ-CP đặt mục tiêu đến năm 2030 diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; chất thải nhựa ven biển được thu gom, xử lý triệt để. Điều này thể hiện rất rõ quan điểm: “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng” và sử dụng tài nguyên biển tiết kiệm, hiệu quả; đồng thời, bảo đảm phát triển kinh tế đi đôi với nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Văn hóa biển phải được nhìn nhận như một nguồn lực phát triển chứ không chỉ là đối tượng bảo tồn. Những câu chuyện mà Báo Sài Gòn Giải phóng phản ánh ở Lý Sơn, làng biển Nam Ô hay du lịch tàu biển tại Chân Mây cho thấy nếu biết kết hợp văn hóa, sản vật bản địa, công nghệ và dịch vụ thì có thể tạo ra giá trị kinh tế mới, kéo dài chuỗi chi tiêu và tạo sinh kế bền vững hơn cho cộng đồng.

Hợp tác xã dịch vụ - du lịch thủy sản Nhơn Hải (phường Quy Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai) thành công với mô hình nuôi biển bằng lồng HDPE với loài cá bớp. Ảnh: TUỆ LÂM

Hợp tác xã dịch vụ - du lịch thủy sản Nhơn Hải (phường Quy Nhơn Đông, tỉnh Gia Lai) thành công với mô hình nuôi biển bằng lồng HDPE với loài cá bớp. Ảnh: TUỆ LÂM
Cuối cùng,Chính phủ yêu cầu nhiệm vụ nào đã rõ, đã có chương trình, đề án thì phải triển khai ngay, không tạo thêm thủ tục trung gian không cần thiết; xác định rõ sản phẩm, tiến độ, nguồn lực và trách nhiệm người đứng đầu. Đến năm 2027 phải hoàn thiện hệ thống chỉ tiêu, tiêu chí đánh giá phát triển quốc gia biển mạnh để kết quả thực hiện có thể được đo lường, kiểm tra và đánh giá. Có thể thấy, xây dựng quốc gia biển mạnh là nhiệm vụ chiến lược, lâu dài, đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cả hệ thống chính trị, cộng đồng doanh nghiệp và người dân. Chúng ta phải làm cho “thể chế đồng bộ, minh bạch, khả thi hơn”, “không gian biển được tổ chức tốt hơn”, “hạ tầng kết nối, khoa học - công nghệ đi nhanh hơn”, “chuỗi giá trị dài hơn”, “phần giá trị giữ lại cho đất nước, doanh nghiệp và người dân ngày một nhiều hơn”, “quốc phòng - an ninh được giữ vững” và “hội nhập, hợp tác quốc tế ngày càng thực chất và hiệu quả”. Qua đó, phát huy tốt hơn lợi thế của biển, đảo; tạo động lực tăng trưởng mới, đóng góp thiết thực vào mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước.
. Xin Phó Thủ tướng Chính phủ cho biết tình hình các Bộ, ngành, địa phương liên quan đang triển khai ra sao?
+ Về tình hình triển khai, các yêu cầu, nhiệm vụ của Nghị quyết số 20-NQ/TW và Nghị quyết số 218/NQ-CP đã được cụ thể hóa và đang được thực hiện ở nhiều cấp, từ việc rà soát văn bản pháp luật, quy hoạch, hạ tầng, dữ liệu đến xây dựng các chương trình phát triển ngành và kế hoạch hành động của địa phương. Chính phủ đã giao cho Bộ Nông nghiệp và Môi trường làm đầu mối theo dõi, tổng hợp và đôn đốc, giám sát tiến độ triển khai các nội dung, nhiệm vụ của Nghị quyết số 218/NQ-CP đã giao cho các bộ, ngành, địa phương, bảo đảm các chủ trương, chính sách của Nghị quyết số 20-NQ/TW sớm đi vào thực tiễn phục vụ sự phát triển và mang lại giá trị thực chất cho người dân, đặc biệt người dân khu vực ven biển, thường xuyên sinh sống và trực tiếp thực hiện các hoạt động sinh kế từ biển.
Thực tiễn tại một số địa bàn được Báo Sài Gòn Giải phóng phản ánh như Tam Quan, Sông Cầu, Dung Quất, Lý Sơn, Chân Mây và Thành phố Hồ Chí Minh… cho thấy yêu cầu phát huy hiệu quả tiềm năng, lợi thế biển cần gắn với tổ chức không gian biển hợp lý, phát triển đồng bộ hạ tầng và nâng cao giá trị gia tăng trong các chuỗi sản xuất, kinh doanh. Theo đó, phát triển cảng biển cần gắn với nguồn hàng, hệ thống logistics và hạ tầng kết nối hậu phương cảng. Phát triển thủy sản cần gắn với bảo quản, chế biến sâu, logistics và kết nối thị trường. Phát triển nuôi biển cần đi đôi với hoàn thiện quy hoạch, hạ tầng, thực hiện việc giao khu vực biển và ứng dụng hiệu quả khoa học công nghệ. Du lịch biển cần kết hợp với văn hóa, di sản, sản phẩm và dịch vụ đặc trưng để nâng cao chất lượng trải nghiệm, gia tăng giá trị kinh tế và tạo sinh kế bền vững cho người dân. Vì vậy, hiệu quả phát triển kinh tế biển cần được đánh giá không chỉ qua số lượng dự án, mà còn qua giá trị gia tăng, năng suất, sức cạnh tranh, hiệu quả sử dụng tài nguyên và những lợi ích thiết thực mang lại cho người dân, doanh nghiệp và nền kinh tế.
Hoạt động bốc dỡ hàng hóa, kiện container bên trong cảng biển Quy Nhơn - nơi được xem là “cửa ngõ biển” Tây Nguyên. Ảnh: NGỌC OAI
. Thưa Phó Thủ tướng, khi triển khai các nghị quyết hiệu quả, kinh tế biển có thể đóng góp như thế nào vào việc thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số, đồng thời bảo đảm chất lượng và tính bền vững của tăng trưởng?
Trong bối cảnh đất nước đang nỗ lực thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế cao, kinh tế biển có thể đóng góp theo ba phương thức chính.
Thứ nhất là tạo tăng trưởng từ các ngành có quy mô lớn và dư địa còn rộng như cảng biển - logistics, vận tải biển, công nghiệp ven biển, dầu khí và năng lượng, du lịch biển, nuôi biển công nghệ cao và các ngành kinh tế biển mới. Việc này sẽ góp phần thực hiện mục tiêu đến năm 2030 tổng GRDP của các tỉnh, thành phố ven biển đóng góp trên 70% GDP cả nước, tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân hằng năm của các địa phương ven biển trên 11%.
Thứ hai là tạo sự lan tỏa, kết nối và mở rộng chuỗi giá trị. Một cảng nước sâu hoạt động hiệu quả, một trung tâm logistics tốt hay một tuyến đường sắt kết nối hậu phương cảng không chỉ tạo GRDP ở địa phương có biển, mà còn giúp làm giảm chi phí cho hàng hóa của các vùng sản xuất nội địa khi ra thị trường thế giới. Khi logistics nhanh hơn, ổn định hơn và rẻ hơn, sức cạnh tranh của nông sản, công nghiệp chế biến, điện tử, dệt may, máy móc và nhiều ngành khác đều tăng. Nghị quyết số 218/NQ-CP đặt mục tiêu đưa chi phí logistics xuống dưới 12% GDP. Đây là một chỉ tiêu quan trọng, thể hiện rất rõ tác động lan tỏa của kinh tế biển đối với các địa phương không có biển.
Các tàu hàng quốc tế vào bốc dỡ hàng hóa công nghiệp tấp nập ở khu vực cảng biển Dung Quất, tỉnh Quảng Ngãi. Ảnh: NGỌC OAI

Cảng cá Quy Nhơn (tỉnh Gia Lai) bên đô thị, cảng biển công nghiệp nơi neo đậu tránh trú hàng trăm tàu cá trong tỉnh và khu vực Nam Trung Bộ. Ảnh: NGỌC OAI
Thứ ba là mở ra những không gian và động lực tăng trưởng mới theo hướng hiệu quả, bền vững. Điện gió ngoài khơi không chỉ tạo điện mà kéo theo cảng dịch vụ, đóng tàu, cơ khí, cáp ngầm, khảo sát biển, bảo dưỡng và nhân lực kỹ thuật. Nuôi biển công nghiệp không chỉ tạo sản lượng thủy sản mà mở ra thị trường thiết bị, giống, thức ăn, công nghệ số, bảo hiểm, chế biến và xuất khẩu. Du lịch biển nếu gắn với văn hóa, di sản, kinh tế đêm và tàu biển quốc tế sẽ tạo ra giá trị cao hơn nhiều so với chỉ khai thác bãi tắm và nghỉ dưỡng tại chỗ. Cáp ngầm biển, dữ liệu, hydrogen, amoniac xanh, công nghệ sinh học và dược liệu biển cũng là những ngành mới mà Chương trình hành động đã đặt ra.
Chất lượng, chiều sâu tăng trưởng phải được đo bằng năng suất, giá trị gia tăng, trình độ công nghệ, tỷ lệ nội địa hóa, thu nhập của người dân và sức khỏe của hệ sinh thái. “Giàu từ biển” không đơn thuần là lấy bao nhiêu từ biển, mà là biết tổ chức không gian tốt hơn, đưa khoa học - công nghệ vào nhiều hơn, chế biến sâu hơn, kết nối thị trường tốt hơn, mang lại nhiều giá trị gia tăng hơn; đồng thời gìn giữ được nguồn vốn tự nhiên ở biển và để người dân thực sự có sinh kế, có thu nhập và có tương lai gắn với biển. Đó chính là nội hàm của “phát triển bền vững” từ biển. Với cách tiếp cận đó, biển không chỉ là không gian phát triển của các ngành kinh tế truyền thống, mà còn phải trở thành động lực tăng trưởng mới, không gian mở rộng hợp tác và hội nhập, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Mục tiêu cuối cùng là khai thác tốt hơn tiềm năng, lợi thế của biển và đảo để tạo ra nhiều giá trị hơn cho đất nước, doanh nghiệp và người dân; bảo đảm phát triển nhanh, bền vững, giữ gìn tài nguyên và môi trường biển cho các thế hệ mai sau, từng bước hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh.
. Xin cảm ơn Phó Thủ tướng!

Các vùng nuôi thủy sản, tôm hùm vịnh Xuân Đài (tỉnh Đắk Lắk) – vùng nuôi tôm hùm lớn nhất miền Trung. Ảnh: NGỌC OAI
