Phối hợp hiệu quả các định chế tài chính nước ngoài sẽ tạo nguồn lực tài chính rất lớn cho nền kinh tế Việt Nam
Tại Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026 lần thứ 6 do Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương chỉ đạo và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức vừa diễn ra ngày 13/5 tại Hà Nội, nhiều chuyên gia, doanh nghiệp đã chia sẻ xu hướng phát triển kinh tế toàn cầu, cơ hội của Việt Nam trong chuỗi giá trị mới, đặc biệt là thể chế và nhu cầu vốn cho doanh nghiệp.
Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí thu hút vốn FDI
Phát biểu tại diễn đàn, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết, hiện nay cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng. Xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, phát triển trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, dữ liệu và công nghệ chiến lược đang làm thay đổi căn bản phương thức cạnh tranh và hợp tác kinh tế toàn cầu. Trong bối cảnh đó, cạnh tranh thu hút đầu tư quốc tế cũng thay đổi mạnh mẽ. Nếu trước đây lợi thế chủ yếu là chi phí lao động thấp và ưu đãi đầu tư, thì hiện nay các nhà đầu tư quan tâm nhiều hơn tới chất lượng thể chế, tính ổn định chính sách, hạ tầng chiến lược, nguồn nhân lực chất lượng cao, năng lượng xanh, hạ tầng dữ liệu, năng lực đổi mới sáng tạo và độ tin cậy ổn định của môi trường đầu tư.
Đối với Việt Nam, đây vừa là thách thức, vừa là cơ hội rất lớn để tái định vị vai trò trong chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu, đặc biệt, trong bối cảnh dòng vốn FDI toàn cầu suy giảm tại nhiều khu vực, Việt Nam tiếp tục duy trì vị trí trong nhóm các quốc gia thu hút FDI hàng đầu ASEAN.

Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng phát biểu tại diễn đàn
“
Việt Nam hiện có hơn 46.500 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 543 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế đạt khoảng 357,6 tỷ USD. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng trên 20% GDP, khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.
Theo Phó Thủ tướng, điều này phản ánh niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp quốc tế đối với triển vọng phát triển ổn định chính trị-xã hội và môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam. Đặc biệt trong những năm gần đây, Việt Nam là địa điểm ghi nhận sự hiện diện và mở rộng đầu tư của nhiều tập đoàn lớn trong các lĩnh vực điện tử, bán dẫn, công nghệ cao, năng lượng, logistics, tài chính, đổi mới sáng tạo và dịch vụ hiện đại. Qua đó góp phần hình thành các hệ sinh thái sản xuất và chuỗi cung ứng mới tại Việt Nam.
Tuy nhiên, Phó Thủ tướng cho rằng, chất lượng và hiệu quả liên kết giữa khu vực FDI với khu vực kinh tế trong nước vẫn chưa đạt được như kỳ vọng. Nhiều doanh nghiệp Việt Nam vẫn tham gia ở phân khúc giá trị gia tăng thấp, tỉ lệ nội địa hóa trong một số ngành công nghiệp còn hạn chế.
Tái cấu trúc chính sách hút FDI
Cũng tại Diễn đàn, TS Nguyễn Đức Hiển - Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương chia sẻ để đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn tới, nhu cầu vốn của nền kinh tế Việt Nam được xác định ở mức khoảng 8,5 triệu tỷ đồng. Tuy nhiên, khu vực nhà nước đóng góp từ 8,3 - 8,5 triệu tỷ đồng, còn lại là thu hút từ khu vực tư nhân, trong đó khu vực FDI và đầu tư tư nhân trở thành động lực quan trọng. Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp thiết tái định vị vai trò của khu vực đầu tư nước ngoài (FDI) và dòng vốn đầu tư gián tiếp (FII) trong cấu trúc nền kinh tế, đặc biệt là FDI thế hệ mới.
Theo TS Nguyễn Đức Hiển, làm thế nào để tạo sự liên kết và cộng hưởng giữa khu vực doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, tránh tình trạng tồn tại “hai nền kinh tế” tách biệt. Đây là vấn đề đã được nhắc đến nhiều năm qua nhưng cần có cách tiếp cận mới và thực chất hơn.
Chia sẻ góc nhìn về khả năng tiếp cận nguồn vốn cho nhu cầu tăng trưởng cao của Việt Nam trong bối cảnh hiện nay, ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam cũng nhận định: "Trên bình diện toàn cầu, ASEAN hiện là một trong những khu vực thu hút FDI mạnh nhất thế giới, chỉ đứng sau Mỹ và châu Âu. Trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng về thu hút đầu tư trong khu vực. So với Indonesia, Malaysia, Thái Lan hay Philippines, Việt Nam đang sở hữu sức hút đầu tư rất ấn tượng. Nếu đặt cạnh các nền kinh tế có quy mô tương đồng như Malaysia, Thái Lan và Philippines, lượng vốn FDI vào Việt Nam đang vượt trội rõ rệt".
Từ nhu cầu vốn phục vụ tăng trưởng trong 5 năm tới, ông Quang cho rằng, bên cạnh các kênh truyền thống như FDI và đầu tư gián tiếp (FII), còn một kênh dẫn vốn đang vận hành tích cực nhưng thường chưa được đề cập đầy đủ đó là dòng vốn xuyên biên giới thông qua hệ thống các định chế tài chính quốc tế đang hoạt động tại Việt Nam. Hiện nay, khối ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam không chỉ thu xếp vốn vay trực tiếp cho doanh nghiệp trong nước mà còn hỗ trợ nguồn vốn quy mô lớn cho các tổ chức tín dụng nội địa.
Ông Quang dẫn chứng, trong năm 2021, một nhóm ngân hàng nước ngoài, trong đó có UOB, đã thu xếp khoản vay dài hạn trị giá 1 tỷ USD cho một định chế tài chính trong nước. Riêng UOB, tổng hạn mức thu xếp cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận nguồn vốn quốc tế cũng như tài trợ thương mại cho các định chế tài chính trong nước đã lên tới hàng tỷ USD.
Các báo cáo cũng đánh giá, Việt Nam có gần 50 định chế tài chính nước ngoài đang hoạt động, bao gồm 9 ngân hàng 100% vốn nước ngoài và khoảng 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Nếu tạo dựng được niềm tin và thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa các tổ chức này với thị trường trong nước, đây sẽ là một nguồn lực tài chính rất lớn cho nền kinh tế. Đồng thời, quá trình tiếp cận thị trường vốn quốc tế đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải đáp ứng các tiêu chuẩn cao hơn về minh bạch tài chính, kế hoạch kinh doanh cũng như năng lực quản trị. Trong các giao dịch hợp vốn quốc tế, ngân hàng thu xếp vốn thường phải phối hợp cùng 10 - 20 tổ chức tài chính nước ngoài khác để tham gia cấp tín dụng.

Ông Đinh Đức Quang - Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam
Đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp, ông Quang cho biết, dư địa thu hút nhà đầu tư nước ngoài vào thị trường trái phiếu Việt Nam còn rất lớn, đặc biệt là trái phiếu Chính phủ.
“
Theo số liệu đã công bố, tỷ lệ nắm giữ trái phiếu Chính phủ Việt Nam của nhà đầu tư nước ngoài hiện mới ở mức khoảng 1 - 2%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia trong khu vực. Tại Thái Lan, tỷ lệ này khoảng 10%, tương đương quy mô nắm giữ khoảng 20 tỷ USD. Trong khi đó, tại Malaysia và Indonesia, nhà đầu tư nước ngoài đang nắm giữ khoảng 20 - 25% lượng trái phiếu chính phủ phát hành, tương đương khoảng 60 - 70 tỷ USD.
Theo ông Quang, nếu có các giải pháp cụ thể để thu hút nhà đầu tư nước ngoài tham gia sâu hơn vào thị trường trái phiếu Chính phủ, đây sẽ là một nguồn lực rất lớn cho Việt Nam.
Ông Quang cũng nhấn mạnh, thị trường trái phiếu doanh nghiệp hiện cũng được đánh giá là dư địa tiềm năng để kết nối doanh nghiệp trong nước với dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, điều mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm nhất hiện nay là hệ thống hạ tầng đánh giá rủi ro tín dụng, cơ chế định giá và đường cong lãi suất chuẩn trên thị trường. Đây được xem là cơ sở quan trọng giúp các nhà đầu tư xây dựng mô hình đánh giá rủi ro, định giá tài sản và tạo dựng niềm tin khi tham gia thị trường trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam. Kỳ vọng trong thời gian tới, các cơ quan quản lý như Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước sẽ phối hợp cùng các thành viên thị trường để hoàn thiện hạ tầng định giá, xây dựng đường cong lãi suất chuẩn cho cả thị trường tiền tệ ngắn hạn và thị trường vốn dài hạn.
Chia sẻ thêm về khả năng cung ứng nguồn vốn của UOB cho doanh nghiệp, ông Quang cho biết hiện, vốn điều lệ của UOB Việt Nam đã đạt khoảng 10.000 tỷ đồng, thuộc nhóm ngân hàng nước ngoài có quy mô vốn lớn nhất tại thị trường Việt Nam. Sau khi nhận chuyển giao mảng ngân hàng bán lẻ của Citibank Việt Nam, UOB tiếp tục mở rộng hoạt động trên nhiều phân khúc khách hàng và cam kết đồng hành dài hạn cùng các doanh nghiệp FDI cũng như kết nối doanh nghiệp trong nước với nguồn vốn quốc tế, qua đó góp phần thúc đẩy nền kinh tế Việt Nam phát triển thực chất và bền vững hơn trong thời gian tới.











