Phòng, chống tảo hôn: Tạo nền tảng cho phát triển bền vững
ĐBP - Trong tiến trình phát triển bền vững vùng đồng bào dân tộc thiểu số, công tác phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống không chỉ là nhiệm vụ cấp thiết mà còn là thước đo chất lượng nguồn nhân lực và sự tiến bộ xã hội. Đặc biệt, việc Ban Thường vụ Tỉnh ủy ban hành Nghị quyết số 27 về phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống giai đoạn 2026 - 2030 đã thể hiện rõ quyết tâm chính trị cao, định hướng đồng bộ, toàn diện cho nhiệm vụ quan trọng này.

Cán bộ Đồn Biên phòng Na Cô Sa tuyên truyền pháp luật về dân số, phòng chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống trên địa bàn. Ảnh: Lan Phương
Thực tiễn tại Điện Biên cho thấy, dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, song tình trạng tảo hôn vẫn còn diễn biến phức tạp, đòi hỏi phải có những giải pháp mạnh mẽ hơn. Những năm qua, dưới sự lãnh đạo của cấp ủy, chính quyền các cấp, nhận thức của người dân về hôn nhân, gia đình từng bước được nâng lên; nhiều hủ tục lạc hậu dần được xóa bỏ; hệ thống chính trị vào cuộc ngày càng rõ nét hơn. Tuy nhiên, giai đoạn 2021-2025, toàn tỉnh vẫn ghi nhận 6.987 trường hợp tảo hôn, chiếm khoảng 27,9% tổng số người kết hôn; vẫn còn xảy ra hôn nhân cận huyết thống. Dù tỷ lệ có xu hướng giảm, song chưa bền vững, nguy cơ tái diễn còn cao, nhất là tại vùng sâu, vùng xa, khu vực biên giới.
Nguyên nhân của tảo hôn bắt nguồn từ nhiều yếu tố: phong tục, tập quán lạc hậu còn ăn sâu; nhận thức pháp luật của một bộ phận người dân còn hạn chế; điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn; hạ tầng thông tin thiếu đồng bộ. Bên cạnh đó, ở một số cơ sở, công tác lãnh đạo, chỉ đạo chưa quyết liệt; việc kiểm tra, giám sát còn hạn chế; chế tài xử lý chưa đủ sức răn đe; việc sửa đổi hương ước, quy ước chưa kịp thời.
Nghị quyết 27 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy chỉ rõ: công tác phòng, chống tảo hôn và hôn nhân cận huyết thống là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, trong đó cấp ủy giữ vai trò lãnh đạo, chính quyền giữ vai trò quản lý, điều hành; sự phối hợp của các ngành, đoàn thể và sự đồng thuận của Nhân dân là yếu tố quyết định. Điểm nhấn của Nghị quyết là yêu cầu triển khai đồng thời cả hai nhiệm vụ “phòng” và “chống”, trong đó “phòng” là chính, mang tính chiến lược, lâu dài.
Để hiện thực hóa Nghị quyết, trước hết cần đổi mới mạnh mẽ công tác tuyên truyền. Nội dung phải thiết thực, dễ hiểu, phù hợp với từng dân tộc, từng vùng. Hình thức cần đa dạng, linh hoạt, phát huy vai trò của già làng, trưởng bản, người có uy tín. Đặc biệt, thanh thiếu niên phải được xác định là đối tượng trung tâm, được trang bị đầy đủ kiến thức về pháp luật, sức khỏe sinh sản, kỹ năng sống và định hướng tương lai.
Cùng với đó, cần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Các cấp, các ngành phải cụ thể hóa bằng các kế hoạch, chương trình hành động cụ thể; tăng cường kiểm tra, giám sát; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm. Việc xây dựng, sửa đổi hương ước, quy ước ở cơ sở phải gắn với yêu cầu xóa bỏ hủ tục, phù hợp với quy định pháp luật.
Một giải pháp mang tính căn cơ là đầu tư phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ưu tiên nguồn lực đầu tư hạ tầng thiết yếu như giao thông, điện, nước, trường học, trạm y tế, hạ tầng thông tin. Khi đời sống được cải thiện, người dân sẽ có điều kiện tiếp cận tri thức, thay đổi nhận thức, từ đó từng bước xóa bỏ các tập quán lạc hậu về tảo hôn.
Giáo dục tiếp tục là “chìa khóa” quan trọng. Cần phát triển hệ thống trường dân tộc nội trú, bán trú; bảo đảm điều kiện để học sinh đến trường, hạn chế bỏ học sớm. Đẩy mạnh giáo dục giới tính, kỹ năng sống, tư vấn hướng nghiệp cho học sinh. Khi các em có tri thức và tương lai rõ ràng, tảo hôn sẽ không còn là lựa chọn.
Nghị quyết 27 đặt ra các mục tiêu cụ thể, rõ ràng: giảm tỷ lệ tảo hôn bình quân 5-6%/năm; đến năm 2030 cơ bản chấm dứt tình trạng hôn nhân cận huyết thống; 100% cán bộ cơ sở được tập huấn; 100% học sinh được tuyên truyền; 100% hộ gia đình ký cam kết thực hiện pháp luật về hôn nhân và gia đình. Đây là những mục tiêu vừa có tính thách thức, vừa có tính khả thi nếu được triển khai nghiêm túc, đồng bộ.
Phòng, chống tảo hôn không chỉ là xóa bỏ một hủ tục, mà còn là bảo vệ quyền con người, quyền trẻ em; là nâng cao chất lượng dân số, tạo nền tảng cho phát triển bền vững. Với sự vào cuộc quyết liệt của cả hệ thống chính trị, cùng sự đồng thuận của Nhân dân, tin tưởng rằng tình trạng tảo hôn trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ từng bước được đẩy lùi, hướng tới một tương lai phát triển bền vững, văn minh và tiến bộ.











