Phòng, chống thiên tai phải được lồng ghép vào hệ thống quy hoạch
Ngày 6/11, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 2129/QĐ-TTg về Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia giai đoạn 2026-2030.
Theo đó, nội dung phòng, chống thiên tai phải được lồng ghép toàn diện vào hệ thống quy hoạch cấp quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh và kế hoạch phát triển của các ngành, địa phương.
Cụ thể, yêu cầu bảo đảm không gian thoát lũ qua hệ thống cầu, cống đường bộ, đường sắt được tích hợp vào quy hoạch mạng lưới giao thông đường bộ, đường sắt và đường thủy nội địa. Phương án sắp xếp, di dời dân cư khỏi khu vực có nguy cơ cao xảy ra sạt lở, lũ quét, ngập lụt, cùng việc đầu tư cơ sở hạ tầng đa mục tiêu làm nơi sơ tán an toàn, được gắn với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch hệ thống đô thị, nông thôn và các chương trình mục tiêu quốc gia.

Năm 2024-2025 liên tiếp xảy ra các trận lũ lịch sử gây thiệt hại nặng nề tại nhiều địa phương. Ảnh minh họa.
Các giải pháp củng cố đê điều, hồ đập, phòng, chống sạt lở và ứng phó hạn hán, xâm nhập mặn được tích hợp vào quy hoạch tài nguyên nước, thủy lợi, lâm nghiệp. Mạng lưới trạm quan trắc chuyên dùng được lồng ghép vào quy hoạch khí tượng thủy văn.
Tập trung giải pháp cho 5 nhóm thiên tai nguy hiểm
Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia giai đoạn 2026-2030 tập trung vào 5 nhóm thiên tai gây thiệt hại nặng nề, gồm bão mạnh, siêu bão; lũ, ngập lụt; lũ quét, sạt lở đất; sạt lở bờ sông, bờ biển; hạn hán và xâm nhập mặn.
Đối với bão mạnh, siêu bão, các giải pháp tập trung vào việc siết chặt quản lý xây dựng công trình, đô thị ven biển; chủ động phương án sắp xếp, di dời người dân khỏi khu vực nguy hiểm tại cửa sông, mép nước; hỗ trợ hộ nghèo, gia đình chính sách xây dựng nhà an toàn. Đồng thời, hoàn thiện hệ thống khu neo đậu tàu thuyền tránh trú bão gắn với hậu cần nghề cá và bảo đảm thông tin liên lạc thông suốt trong tình huống khẩn cấp.
Trong công tác phòng, chống lũ, kế hoạch yêu cầu quản lý tổng hợp theo lưu vực sông, bảo đảm không gian thoát lũ thông qua quản lý chặt chẽ bãi sông, lòng dẫn và xử lý tình trạng lấn chiếm trái phép. Quy trình vận hành liên hồ chứa được rà soát, điều chỉnh theo hướng ưu tiên bố trí dung tích hữu ích để cắt lũ, giảm ngập cho khu vực hạ du. Các tuyến đê sông trọng yếu từ cấp III đến cấp đặc biệt phải được nâng cấp. Đồng thời, cần chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp thích ứng với đặc tính lũ từng vùng.
Đối với lũ quét, sạt lở đất tại khu vực đồi núi, kế hoạch tập trung kiểm soát hoạt động san bạt sườn dốc, lấn chiếm hành lang thoát lũ của sông, suối; đẩy nhanh tiến độ sắp xếp dân cư tại vùng xung yếu, gắn với bảo đảm sinh kế lâu dài. Các giải pháp khác gồm hiện đại hóa mạng lưới đo mưa, trạm quan trắc thủy văn, cảm biến độ ẩm đất; đầu tư đập chắn bùn đá và thanh thải vật cản dòng chảy.
Đối với sạt lở bờ sông, bờ biển, các địa phương phải tăng cường kiểm soát hoạt động xây dựng ven bờ và khai thác cát, sỏi lòng sông trái phép; rà soát, cắm biển cảnh báo, khoanh vùng nguy hiểm và di dời khẩn cấp người dân đến nơi an toàn. Kế hoạch cũng đặt ra yêu cầu lập bản đồ cảnh báo rủi ro, ưu tiên nguồn lực xây dựng kè kiên cố tại các điểm sạt lở phức tạp, đe dọa hạ tầng thiết yếu và khu dân cư tập trung, đặc biệt tại dải bờ biển phía đông và phía tây Đồng bằng sông Cửu Long.
Với hạn hán và xâm nhập mặn, giải pháp trọng tâm là chuyển đổi cơ cấu cây trồng, mùa vụ thích ứng với diễn biến nguồn nước; kiểm soát các hoạt động làm gia tăng nguy cơ suy giảm nước ngọt. Các địa phương tập trung đầu tư công trình kiểm soát mặn, giữ ngọt tại cửa sông, kết hợp nạo vét kênh rạch, vận hành linh hoạt hệ thống hồ chứa để tối ưu hóa khả năng trữ nước. Kế hoạch cũng đề cập việc hỗ trợ thiết bị thu, trữ nước quy mô hộ gia đình và chuẩn bị phương tiện vận chuyển nước sạch sinh hoạt đến các khu vực chịu ảnh hưởng nặng nề.
Ưu tiên nhiệm vụ liên ngành, liên vùng, liên tỉnh
Theo thống kê, giai đoạn 2021-2025, cả nước xuất hiện 21/22 loại hình thiên tai, với tổng số 6.088 trận. Trong đó có nhiều loại hình nguy hiểm như bão mạnh, siêu bão, mưa đặc biệt lớn, ngập lụt diện rộng, lũ lịch sử, lũ quét, sạt lở đất, hạn hán và xâm nhập mặn.
Trước tình hình này, Kế hoạch phòng, chống thiên tai quốc gia giai đoạn 2026-2030 tập trung giải quyết các nhiệm vụ có tính tổng thể, phạm vi ảnh hưởng rộng, đòi hỏi sự phối hợp liên ngành, liên vùng, liên tỉnh. Các dự án quy mô lớn, yêu cầu kỹ thuật phức tạp hoặc vượt quá khả năng cân đối, bố trí nguồn lực của địa phương cũng được tập trung giải quyết.
Kế hoạch xác định 8 nhóm nội dung và biện pháp tổng thể, gồm rà soát, hoàn thiện văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế, chính sách về phòng, chống thiên tai; nâng cao nhận thức cộng đồng, tăng cường quản lý rủi ro thiên tai dựa vào cộng đồng; tăng cường quản lý và nâng cao năng lực lực lượng làm công tác phòng, chống thiên tai; nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo; điều tra cơ bản, rà soát, điều chỉnh quy hoạch và phương án ứng phó; đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học công nghệ; mở rộng hợp tác quốc tế; tập trung đầu tư xây dựng, nâng cấp các công trình phòng, chống thiên tai trọng điểm.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường là cơ quan đầu mối, chủ trì phối hợp với Ban Chỉ đạo Phòng thủ dân sự quốc gia, các bộ, ngành và địa phương theo dõi, đôn đốc, kiểm tra, định kỳ báo cáo Thủ tướng Chính phủ kết quả thực hiện.

