Phòng vệ thương mại: Bảo vệ sản xuất, giữ vững thị trường trong nước
Sử dụng hiệu quả phòng vệ thương mại để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các ngành sản xuất, từ đó bảo vệ thị trường trong nước, kiến tạo tăng trưởng kinh tế.
Phòng vệ thương mại để bảo vệ thị trường trong nước
Với quy mô dân số hơn 100 triệu người và tầng lớp trung lưu ngày càng mở rộng, Việt Nam được đánh giá là một trong những thị trường tiêu dùng giàu tiềm năng nhất khu vực Đông Nam Á. Năm 2025, quy mô thị trường bán lẻ của Việt Nam đạt khoảng 269 tỷ USD, trong khi tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tăng khoảng 9-10%. Những con số này cho thấy sức mua nội địa đang phục hồi mạnh mẽ, đồng thời phản ánh niềm tin tiêu dùng của người dân đối với nền kinh tế.
Không chỉ đóng vai trò kích thích tiêu dùng, thị trường trong nước còn góp phần nâng cao tính tự chủ của nền kinh tế, góp phần cùng cả nước hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 và giai đoạn 2026 - 2030. Mục tiêu này đòi hỏi các cấu phần của tăng trưởng như xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng nội địa đều phải nỗ lực tăng trưởng mạnh hơn trong giai đoạn tới.
Tại Quyết định số 165/QĐ-TTg của Chính phủ ban hành ngày 28/2/2023 về việc phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành Công Thương giai đoạn đến năm 2030 cũng xác định phát triển nhanh, bền vững thị trường trong nước kết nối liền mạch với thị trường xuất nhập khẩu nhằm đảm bảo không gian thị trường cho các ngành sản xuất trong nước và nâng cao nội lực của nền kinh tế trên cơ sở mở rộng tiêu dùng nội địa gắn với phát triển thương hiệu hàng Việt Nam.
Không những vậy, Quyết định số 165/QĐ-TTg cũng đặt ra yêu cầu, xây dựng và hoàn thiện hệ thống thể chế, pháp luật về phòng vệ thương mại, quản lý cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng phù hợp với cam kết quốc tế... Nâng cao năng lực phòng vệ thương mại và thực hiện có hiệu quả các biện pháp phòng vệ thương mại, chống lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại, lợi dụng và gian lận xuất xứ nhằm bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các ngành sản xuất và thị trường trong nước trong bối cảnh gia tăng cạnh tranh từ bên ngoài.

Mục tiêu của các biện pháp phòng vệ thương mại là bảo vệ để phát triển, chứ không phải bảo vệ để tránh cạnh tranh.
Trên thực tế, thời gian qua, kinh tế và thương mại thế giới tiếp tục có những biến động nhanh chóng và phức tạp. Cạnh tranh chiến lược giữa các nền kinh tế lớn ngày càng sâu sắc; xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng; chuỗi cung ứng tiếp tục được tái cấu trúc; nhiều quốc gia tăng cường các chính sách hỗ trợ sản xuất trong nước và bảo vệ những ngành công nghiệp có ý nghĩa quan trọng.
Đáng chú ý, tình trạng dư thừa công suất tại một số ngành sản xuất trên thế giới đang tạo thêm áp lực đối với thương mại toàn cầu. Khi năng lực sản xuất vượt quá khả năng hấp thụ của thị trường, hàng hóa có xu hướng tìm kiếm các thị trường xuất khẩu mới. Khi một thị trường lớn áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu, dòng thương mại cũng có thể chuyển hướng sang những thị trường khác.
Đối với Việt Nam, một nền kinh tế có độ mở cao, hội nhập sâu rộng và đang duy trì tốc độ phát triển nhanh, những thay đổi đó vừa mang lại cơ hội, vừa đặt ra những thách thức mới đối với thị trường trong nước và các ngành sản xuất nội địa. Chính trong bối cảnh đó, vấn đề bảo vệ thị trường nội địa, củng cố năng lực sản xuất quốc gia và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế cần được đặt ra một cách chủ động hơn.
Tại Diễn đàn Phòng vệ thương mại năm 2026 diễn ra ngày 18/9 vừa qua, nhấn mạnh đến vai trò của các biện pháp phòng vệ thương mại trong bảo hộ các nền sản xuất trong nước, lãnh đạo Bộ Công Thương cho rằng, trong giai đoạn phát triển mới, yêu cầu đặt ra đối với Việt Nam không chỉ là tăng trưởng nhanh mà còn phải xây dựng được những nền tảng đủ vững chắc để duy trì tăng trưởng cao và bền vững trong dài hạn.
“Chúng ta cần tiếp tục mở rộng thị trường, thúc đẩy xuất khẩu, thu hút đầu tư và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Nhưng đồng thời, Việt Nam cũng cần xây dựng một nền sản xuất trong nước có năng lực cạnh tranh, có khả năng thích ứng và có sức chống chịu tốt trước những biến động từ bên ngoài”, lãnh đạo Bộ Công Thương thông tin.
Cũng theo Bộ Công Thương, trong giai đoạn phát triển mới, Việt Nam tiếp tục nhất quán với chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng, thực hiện đầy đủ các cam kết quốc tế và xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, bình đẳng. Nhưng hội nhập cũng đòi hỏi phải biết sử dụng đầy đủ và hiệu quả những công cụ hợp pháp mà hệ thống thương mại quốc tế cho phép để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của ngành sản xuất trong nước.
Làm rõ hơn vai trò của các biện pháp phòng vệ thương mại trong giai đoạn phát triển mới, ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại cho rằng, các biện pháp chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ, khi được áp dụng đúng điều kiện, dựa trên bằng chứng và kết quả điều tra khách quan, có thể góp phần xử lý tác động bất lợi của hàng hóa nhập khẩu và khôi phục môi trường cạnh tranh công bằng.
Tuy nhiên, giá trị của phòng vệ thương mại không chỉ nằm ở mức thuế được áp dụng hay lượng nhập khẩu được điều chỉnh. Quan trọng hơn, một môi trường cạnh tranh công bằng sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp duy trì sản xuất, thực hiện các kế hoạch đầu tư dài hạn, đổi mới công nghệ, nâng cao năng suất và từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh. Chính vì vậy, tinh thần cần được xác định rõ từ các biện pháp phòng vệ thương mại đó là, bảo vệ để phát triển, chứ không phải bảo vệ để tránh cạnh tranh.
Động lực để nâng năng suất
Ở góc độ quản lý và phát triển thị trường trong nước, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn - Phó Cục trưởng Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước nhìn nhận, phòng vệ thương mại không chỉ nằm trong hồ sơ điều tra hay việc ứng phó với một biện pháp cụ thể mà liên quan đến cả chuỗi cung ứng và sự hiện diện trực tiếp trên thị trường của sản phẩm, ngành hàng đó.
Phân tích cụ thể hơn, ông Bùi Nguyễn Anh Tuấn cho rằng, từ đầu năm 2026 tới nay, nhiều vụ việc liên quan đến thép cán nóng, kính nổi, gạch ốp lát cùng nhiều sản phẩm khác cho thấy những diễn biến mới của phòng vệ thương mại. Với kính nổi hay gạch ốp lát, câu chuyện không chỉ dừng ở nhà sản xuất mà còn liên quan đến nhà phân phối, doanh nghiệp xây dựng, nhà thầu, hộ gia đình và người tiêu dùng. Những ví dụ này cho thấy phòng vệ thương mại ngày càng gắn chặt với quản trị thị trường.
“Chính vì vậy, cần giữ một nguyên tắc, đó là phòng vệ thương mại không phải là “chiếc ô” để che cho doanh nghiệp tránh khỏi cạnh tranh, mà phải trở thành động lực để nâng năng suất. Công cụ này chỉ có ý nghĩa khi giúp khôi phục điều kiện cạnh tranh công bằng trước những hành vi hoặc biến động thuộc phạm vi pháp luật cho phép xử lý, đồng thời tạo khoảng thời gian cần thiết để các ngành sản xuất điều chỉnh và nâng cấp”, Phó Cục trưởng Bùi Nguyễn Anh Tuấn nhìn nhận.

Phòng vệ thương mại không phải là “chiếc ô” để che cho doanh nghiệp tránh khỏi cạnh tranh, mà phải trở thành động lực để nâng năng suất.
Thực tiễn quốc tế cho thấy nhiều quốc gia, cả phát triển và đang phát triển, đang sử dụng ngày càng chủ động các công cụ phòng vệ thương mại và nhiều công cụ quản lý thương mại khác để bảo vệ năng lực sản xuất trong nước. Điều đó cho thấy cạnh tranh thương mại ngày nay ngày càng gắn chặt với cạnh tranh về năng lực sản xuất quốc gia.
Đối với Việt Nam, yêu cầu đặt ra không phải là chạy theo xu hướng bảo hộ, mà là phải nâng cao năng lực quản trị thương mại, chủ động nhận diện rủi ro và sử dụng hiệu quả các công cụ hợp pháp để bảo vệ môi trường cạnh tranh công bằng.
Chính vì vậy, trong giai đoạn phát triển mới, công tác phòng vệ thương mại cần chuyển từ phản ứng với từng vụ việc sang chủ động quản trị rủi ro thương mại.
Trước hết, cần tăng cường cảnh báo sớm, theo dõi chặt chẽ biến động dòng thương mại, giá nhập khẩu, năng lực sản xuất và tình trạng dư thừa công suất tại các thị trường lớn. Cùng với đó, dữ liệu phải trở thành nền tảng của công tác phòng vệ thương mại. Doanh nghiệp, hiệp hội cần từng bước chuẩn hóa, xây dựng hệ thống dữ liệu ngành, qua đó nhận diện sớm dấu hiệu bất thường và chủ động ứng phó khi cần thiết.
Một yêu cầu quan trọng khác là tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý nhà nước, hiệp hội, doanh nghiệp, cơ quan hải quan, các bộ, ngành và địa phương, từ cảnh báo, điều tra đến giám sát thực thi và chống lẩn tránh biện pháp.
Đặc biệt, phòng vệ thương mại cần gắn với chính sách phát triển công nghiệp, góp phần tạo môi trường cạnh tranh công bằng. Trên nền tảng đó, doanh nghiệp phải chuyển hóa cơ hội thành năng suất, công nghệ, chất lượng và năng lực cạnh tranh thực chất.
Tính đến giữa tháng 9 năm 2026, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với 327 vụ việc điều tra phòng vệ thương mại từ 27 thị trường. Riêng 9 tháng đầu năm 2026 phát sinh 27 vụ việc mới, tăng hơn 4 vụ so với số vụ việc của cả năm 2025. Diễn biến này đặt ra yêu cầu ngày càng cao đối với cơ quan quản lý, hiệp hội và doanh nghiệp trong việc theo dõi thị trường, nhận diện sớm rủi ro và chủ động ứng phó với các vụ việc phòng vệ thương mại tại nước ngoài.
