Phú Thọ đồng hành cùng doanh nghiệp: Khơi thông nguồn lực, tạo động lực tăng trưởng
Từ công cuộc Đổi mới năm 1986 đến nay, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán chủ trương phát triển kinh tế tư nhân (KTTN), khơi dậy sức sáng tạo, khát vọng làm giàu chính đáng và phát huy nguồn lực trong Nhân dân. Từ Nghị quyết số 14-NQ/TW năm 2002 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX, Nghị quyết số 10-NQ/TW năm 2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đến Nghị quyết số 68-NQ/TW năm 2025 của Bộ Chính trị, vị trí, vai trò của KTTN ngày càng được khẳng định, trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Các Nghị quyết số 09-NQ/TW năm 2011 và số 41-NQ/TW năm 2023 của Bộ Chính trị tiếp tục đề cao vai trò của đội ngũ doanh nhân; Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển KTTN.

Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông trao Bằng khen tặng Hiệp hội Doanh nghiệp tỉnh (tháng 4/2026).
Trong giai đoạn phát triển mới, KTTN được kỳ vọng trở thành lực lượng tiên phong trong khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu, góp phần xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao đời sống Nhân dân và sự thịnh vượng của đất nước. Để hiện thực hóa các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, chính quyền các cấp cần tiếp tục đổi mới tư duy quản lý theo hướng kiến tạo, phục vụ, nâng cao chất lượng thực thi chính sách; bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền sở hữu tài sản và cạnh tranh bình đẳng; khơi thông nguồn lực, củng cố niềm tin, tạo điều kiện để doanh nghiệp (DN) yên tâm đầu tư, phát triển lâu dài.
Trước khi hợp nhất, cả ba tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc và Hòa Bình đều coi trọng vai trò của cộng đồng DN, đội ngũ doanh nhân, quan tâm cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh và tạo điều kiện cho DN phát triển. Kế thừa những thành quả, kinh nghiệm đã tích lũy, tỉnh Phú Thọ hôm nay có thêm không gian, nguồn lực và cơ hội để thu hút đầu tư, tổ chức sản xuất, kết nối thị trường mạnh mẽ hơn; tiếp tục xác định DN, doanh nhân là lực lượng trực tiếp tạo ra của cải, việc làm và giá trị gia tăng, giữ vai trò quan trọng trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số và các mục tiêu phát triển dài hạn. Tinh thần đồng hành với DN phải được thể hiện nhất quán từ định hướng phát triển, lựa chọn chính sách đến trách nhiệm tổ chức thực hiện, để DN chủ động kế hoạch sản xuất, kinh doanh, tin tưởng đầu tư và gắn bó lâu dài với địa phương.
Không gian phát triển mới mở rộng cơ hội cho doanh nghiệp
Sau sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh, Phú Thọ có diện tích 9.361 km2, dân số hơn 4 triệu người, không gian phát triển trải từ vùng Thủ đô đến cửa ngõ Tây Bắc, kết nối Đồng bằng sông Hồng với khu vực Trung du và miền núi phía Bắc. Nền tảng công nghiệp, đô thị, dịch vụ đã hình thành, cùng tiềm năng về nông nghiệp, năng lượng, du lịch và những giá trị văn hóa đặc sắc, tạo điều kiện phát huy lợi thế bổ trợ giữa các vùng. Hệ thống cơ sở sản xuất, đô thị, các hành lang giao thông và thị trường rộng lớn hơn mở ra thêm lựa chọn về địa điểm đầu tư, nguồn nhân lực, tổ chức sản xuất, kinh doanh và kết nối chuỗi cung ứng.
Những lợi thế này tạo cơ sở tăng cường liên kết giữa công nghiệp chế biến với vùng nguyên liệu; giữa khu công nghiệp với dịch vụ, logistics và đô thị; kết nối các điểm đến giàu giá trị văn hóa, lịch sử và cảnh quan thiên nhiên để phát triển du lịch. Thông qua quy hoạch, đầu tư hạ tầng và tổ chức thực hiện chính sách đồng bộ, tỉnh Phú Thọ từng bước tạo điều kiện để DN khai thác hiệu quả hơn nguồn lực và cơ hội trong không gian phát triển mới.
Cộng đồng DN tiếp tục lớn mạnh về quy mô và chất lượng hoạt động. Theo báo cáo 9 tháng năm 2026, toàn tỉnh có 42.260 DN đăng ký hoạt động, trong đó có 802 DN FDI. Trong kỳ, có 3.840 DN thành lập mới với tổng vốn đăng ký 48.300 tỷ đồng và 857 DN quay trở lại hoạt động. Nguồn lực đầu tư từ DN tiếp tục được bổ sung, đóng góp quan trọng cho phát triển kinh tế. Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đạt 2,437 tỷ USD, bằng 151,3% kế hoạch năm, gấp khoảng 2,1 lần cùng kỳ; vốn đầu tư trong nước (DDI) đạt gần 84 nghìn tỷ đồng, bằng 96,5% kế hoạch năm. Đến nay, Phú Thọ có 752 dự án FDI đến từ 27 quốc gia, vùng lãnh thổ, với tổng vốn đăng ký khoảng 15,39 tỷ USD.
Hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh của các DN đã góp phần quan trọng vào kết quả phát triển kinh tế. Trong 9 tháng năm 2026, GRDP ước tăng 10,01%, xếp thứ 11/34 tỉnh, thành phố và thứ 2 vùng Trung du và miền núi phía Bắc; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 21,5%; kim ngạch xuất khẩu ước đạt trên 39 tỷ USD, tăng gần 49% so với cùng kỳ. Thu ngân sách nhà nước trên địa bàn đạt trên 48 nghìn tỷ đồng, bằng 82,7% dự toán năm.
UBND tỉnh ghi nhận, đánh giá cao những đóng góp quan trọng của đội ngũ doanh nhân, cộng đồng DN và các nhà đầu tư đối với sự phát triển của Phú Thọ. Trong bối cảnh thị trường còn nhiều biến động, DN đã nỗ lực duy trì sản xuất, kinh doanh, mở rộng đầu tư, đổi mới công nghệ và chăm lo đời sống người lao động, qua đó góp phần thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, tăng thu ngân sách, bổ sung nguồn lực phát triển hạ tầng và nâng cao đời sống Nhân dân. Bên cạnh đóng góp về kinh tế, việc tích cực góp ý xây dựng cơ chế, chính sách, đề xuất giải pháp tháo gỡ khó khăn, vướng mắc và tham gia các hoạt động an sinh xã hội thể hiện tinh thần trách nhiệm, sự gắn bó và đồng hành của DN cùng Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân các dân tộc trong tỉnh.
Sự lớn mạnh của cộng đồng DN, cùng nỗ lực tạo lập điều kiện phát triển của chính quyền là nền tảng quan trọng để Phú Thọ thực hiện mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân khoảng 11 - 12%/năm giai đoạn 2026 - 2030; phấn đấu đến năm 2030 trở thành một trong những cực tăng trưởng của vùng Thủ đô, trung tâm về công nghiệp, thương mại, logistics, du lịch, y tế, đào tạo chất lượng cao và tổ chức các lễ hội văn hóa lớn gắn với cội nguồn dân tộc; tầm nhìn đến năm 2045 trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.
Đồng hành bằng chính sách và hiệu quả thực thi
UBND tỉnh xác định môi trường đầu tư ổn định, minh bạch và chất lượng thực thi chính sách là những điều kiện quan trọng để DN phát triển. Thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị về phát triển KTTN và các chỉ đạo của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, UBND tỉnh tập trung cải thiện thực chất môi trường đầu tư, kinh doanh, giảm thời gian và chi phí tuân thủ cho DN; đẩy mạnh đơn giản hóa quy trình, giải quyết thủ tục liên thông, khai thác và sử dụng lại dữ liệu đã có, hạn chế yêu cầu cung cấp thông tin trùng lặp, nâng cao trách nhiệm phối hợp giữa các cơ quan. Hiệu quả cải cách hành chính, trọng tâm là thủ tục hành chính phải được thể hiện bằng việc DN chủ động hơn về tiến độ đầu tư, giảm thời gian, công sức thực hiện thủ tục và dành thêm nguồn lực cho sản xuất, kinh doanh.
Thực hiện Nghị quyết số 66-NQ/TW của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật, việc rà soát hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, hoàn thiện các cơ chế, chính sách được đẩy mạnh theo hướng đồng bộ, thống nhất, khả thi và rõ ràng trong áp dụng. UBND tỉnh chủ động ban hành các quy định theo thẩm quyền, kịp thời trình HĐND tỉnh quyết định những nội dung thuộc thẩm quyền; đồng thời tổng hợp, kiến nghị cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết những khó khăn, vướng mắc vượt thẩm quyền. Trong xây dựng chính sách, ý kiến của DN, doanh nhân và các hiệp hội DN được lắng nghe, tiếp thu để quy định sát thực tiễn, thuận lợi trong thực hiện, phục vụ tốt hơn hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh.
Để chính sách được thực hiện thống nhất từ cấp tỉnh đến cơ sở, UBND tỉnh thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ được Trung ương phân cấp, phân quyền và tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, ủy quyền theo quy định, gắn thẩm quyền với nguồn lực, năng lực chuyên môn và trách nhiệm giải trình. Từng công việc được xác định rõ cơ quan chủ trì, trách nhiệm phối hợp, thời hạn, kết quả xử lý; đi đôi với hướng dẫn nghiệp vụ, hỗ trợ cơ sở và kiểm tra chất lượng giải quyết. Các chính sách thuộc thẩm quyền địa phương được cụ thể hóa theo hướng đem lại lợi ích trực tiếp cho người dân, DN. Điển hình, Nghị quyết số 19/2026/NQ-HĐND ngày 30/6/2026 của HĐND tỉnh quy định mức thu 0 đồng đối với một số khoản phí, lệ phí khi thực hiện thủ tục hành chính qua dịch vụ công trực tuyến, trong đó có lệ phí cấp giấy phép xây dựng và phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường thuộc phạm vi quy định. Cùng với đó, chất lượng dịch vụ công trực tuyến và hoạt động hỗ trợ người sử dụng tiếp tục được nâng lên để người dân, DN thuận lợi hơn trong tiếp cận, thực hiện chính sách.
Về đất đai, mặt bằng sản xuất, trọng tâm là công khai thông tin quy hoạch, chuẩn bị quỹ đất và phối hợp giải quyết các thủ tục đầu tư, đất đai, xây dựng, môi trường; tạo điều kiện để DN, nhất là DN nhỏ và vừa tiếp cận mặt bằng phù hợp về vị trí, quy mô và hạ tầng, chủ động phương án sản xuất, rút ngắn thời gian từ quyết định đầu tư đến triển khai hoạt động, giảm chi phí vốn và nắm bắt cơ hội thị trường. Thực hiện Nghị quyết số 198/2025/QH15 của Quốc hội và Nghị định số 20/2026/NĐ-CP của Chính phủ về hỗ trợ tiếp cận mặt bằng, giảm tiền thuê lại đất cho các nhóm DN đủ điều kiện tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp, vườn ươm công nghệ, UBND tỉnh tập trung các nhiệm vụ được giao về quỹ đất, mức hỗ trợ, công khai thông tin, hướng dẫn thủ tục; tăng cường phối hợp giữa cơ quan quản lý, chủ đầu tư hạ tầng và DN thụ hưởng để chính sách đến đúng đối tượng, nguồn lực hỗ trợ được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả.
Tiếp cận tín dụng, nhất là đối với DN nhỏ và vừa, cũng là nội dung được quan tâm ưu tiên. UBND tỉnh phối hợp với Ngân hàng Nhà nước chi nhánh khu vực và các tổ chức tín dụng nâng hiệu quả kết nối ngân hàng - DN, nắm bắt nhu cầu vốn, nhận diện những vướng mắc cụ thể. Các cơ quan chuyên môn của UBND tỉnh tập trung giải quyết thủ tục thuộc phạm vi quản lý, góp phần hoàn thiện hồ sơ pháp lý phục vụ xem xét cấp tín dụng; đồng thời kết nối hoạt động tư vấn phương án kinh doanh, quản trị dòng tiền, kế toán và thông tin tài chính. Mục tiêu là hỗ trợ DN tiếp cận nguồn vốn phù hợp với chu kỳ sản xuất, khả năng trả nợ, trên cơ sở tôn trọng quyền tự chủ, trách nhiệm thẩm định và quyết định cho vay của tổ chức tín dụng.
Cơ chế “Luồng xanh” giải quyết thủ tục hành chính cho các dự án trọng điểm, chương trình “Cà phê doanh nhân” và các cuộc đối thoại DN tiếp tục được phát huy, gắn việc tiếp nhận kiến nghị với trách nhiệm giải quyết đến cùng. Qua đối thoại, UBND tỉnh nắm bắt, xử lý những khó khăn cụ thể, đồng thời nhận diện vướng mắc chung để điều chỉnh quy trình, hoàn thiện chính sách và phương thức phối hợp. Kết quả giải quyết công việc, mức giảm thời gian, chi phí và phản hồi của DN là căn cứ đánh giá chất lượng điều hành, tiếp tục củng cố niềm tin của DN, nhà đầu tư.
Nâng sức cạnh tranh, tạo nền tảng phát triển lâu dài
Bên cạnh tháo gỡ khó khăn về chính sách và thủ tục, việc tạo dựng các điều kiện phát triển lâu dài giúp DN nâng cao năng lực sản xuất, đổi mới công nghệ, phát triển thị trường và tăng sức chống chịu trước biến động. Cải thiện môi trường đầu tư được gắn với phát triển hạ tầng, nguồn nhân lực, ứng dụng khoa học, công nghệ, qua đó nâng năng suất, hiệu quả sử dụng nguồn lực và khả năng duy trì tăng trưởng cao.

Chủ tịch UBND tỉnh Trần Duy Đông cùng lãnh đạo các sở, ngành thăm Công ty TNHH Nghiên cứu kỹ thuật R Việt Nam tại Khu công nghiệp Bờ trái sông Đà (phường Hòa Bình).
Hạ tầng giao thông được định hướng phát triển theo yêu cầu kết nối các khu công nghiệp, đô thị, vùng nguyên liệu với trung tâm logistics và thị trường tiêu thụ. Kết nối đường bộ, đường sắt, đường thủy với kho bãi và dịch vụ logistics, góp phần giảm thời gian lưu chuyển hàng hóa, chi phí của chuỗi cung ứng. Đầu tư công tập trung vào các công trình có khả năng mở rộng liên kết, hình thành các hành lang kinh tế mới, tạo điều kiện huy động đầu tư xã hội. Cùng với đó, UBND tỉnh chú trọng phát triển lưới điện, nâng độ tin cậy cung cấp điện cho sản xuất; quan tâm hạ tầng cấp nước và xử lý môi trường tại các khu vực phát triển công nghiệp.
Hạ tầng viễn thông, hạ tầng số được phát triển theo hướng mở rộng kết nối băng rộng, nâng chất lượng đường truyền, tăng năng lực lưu trữ, xử lý dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin. Việc huy động nguồn lực đầu tư trung tâm dữ liệu và các nền tảng số được gắn với nhu cầu đổi mới quản trị, tổ chức sản xuất, cung cấp dịch vụ của DN. Đối với DN nhỏ và vừa, trọng tâm hỗ trợ là tiếp cận các giải pháp công nghệ có chi phí phù hợp, dễ triển khai và mang lại hiệu quả thiết thực.
Phú Thọ đã đưa Hệ thống quản trị, điều hành kinh tế - xã hội trên nền tảng dữ liệu số vào vận hành thí điểm, đồng thời tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Kho dữ liệu của tỉnh. Trọng tâm là nâng chất lượng thông tin phục vụ phân tích, dự báo, ra quyết định; nhận diện sớm biến động trong sản xuất, đầu tư, lao động và thị trường. Dữ liệu chính xác, được cập nhật, kết nối và sử dụng đúng mục đích sẽ giúp điều hành sát thực tế hơn, hỗ trợ thiết kế chính sách, phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực.
Cộng đồng DN là đối tác quan trọng trong quá trình này. UBND tỉnh khuyến khích DN tham gia chuẩn hóa, cập nhật, kết nối và chia sẻ dữ liệu theo quy định pháp luật, bảo đảm an toàn thông tin, bảo vệ bí mật kinh doanh, dữ liệu cá nhân và quyền, lợi ích hợp pháp của các bên. Việc khai thác phù hợp thông tin về năng lực sản xuất, nhu cầu lao động, dịch vụ logistics và thị trường sẽ hỗ trợ kết nối cung - cầu, tìm kiếm đối tác, mở rộng cơ hội kinh doanh. Về phía cơ quan nhà nước, thông tin được phép công khai cần được cung cấp thuận tiện, tăng khả năng tái sử dụng dữ liệu, giảm yêu cầu cung cấp trùng lặp để DN nhận được lợi ích thiết thực khi tham gia làm giàu nguồn dữ liệu chung.
Thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị, hoạt động hỗ trợ khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số được hướng vào những nhu cầu cụ thể của sản xuất, kinh doanh: Nâng chất lượng sản phẩm, giảm tiêu hao nguyên liệu và năng lượng, quản lý đơn hàng, kiểm soát chất lượng, truy xuất nguồn gốc. Hoạt động kết nối DN với viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo được đẩy mạnh nhằm phát triển các giải pháp có khả năng ứng dụng, phù hợp nhu cầu và năng lực tiếp nhận của DN.
Liên kết giữa DN trong nước và khu vực FDI là một định hướng quan trọng của tỉnh để nâng cao sức cạnh tranh cho DN. Hoạt động kết nối cung ứng được gắn với hỗ trợ DN trong nước đáp ứng tốt hơn các yêu cầu về chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật, tiến độ giao hàng và quản trị. Tham gia sâu hơn vào chuỗi sản xuất giúp DN mở rộng cơ hội nhận đơn hàng, tích lũy kinh nghiệm, cải tiến công nghệ, nâng năng suất và gia tăng đóng góp tại địa phương.
Phát triển nguồn nhân lực được gắn với nhu cầu tuyển dụng và chuyển đổi công nghệ; trong đó chú trọng đẩy mạnh hợp tác giữa cơ sở đào tạo với DN trong xây dựng chương trình, thực hành và tuyển dụng giúp người lao động có kỹ năng phù hợp, DN giảm thời gian đào tạo lại. Song song với đó, sử dụng tiết kiệm tài nguyên, năng lượng, tuân thủ yêu cầu môi trường, xây dựng thương hiệu và thực hiện trách nhiệm với người lao động là những điều kiện để DN nâng khả năng tiếp cận thị trường và phát triển bền vững.
Liên đoàn Doanh nghiệp tỉnh và các Hiệp hội DN cần tiếp tục phát huy hiệu quả hơn, thiết thực hơn vai trò tập hợp nhu cầu, kết nối đối tác và hỗ trợ hội viên về pháp lý, quản trị, thị trường. Thông qua các tổ chức đại diện, các DN, nhất là DN nhỏ và vừa có thêm điều kiện tiếp cận thông tin, dịch vụ tư vấn và cơ hội hợp tác; đồng thời, các kiến nghị được tổng hợp sát thực tiễn hơn, phục vụ quá trình xây dựng và thực hiện cơ chế, chính sách của tỉnh.
Tỉnh Phú Thọ đặc biệt coi trọng sự đồng hành của DN, doanh nhân trong thực hiện mục tiêu tăng trưởng hai con số và các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, tầm nhìn 2045. Trách nhiệm của UBND tỉnh là tiếp tục chỉ đạo nâng cao chất lượng điều hành, cải thiện môi trường đầu tư và mở rộng khả năng tiếp cận các nguồn lực, tạo điều kiện để DN kinh doanh hiệu quả, phát triển lâu dài. Mỗi DN lớn mạnh sẽ góp thêm năng lực sản xuất, việc làm, thu nhập và nguồn lực cho các mục tiêu phát triển chung của Phú Thọ.
Nhân Ngày Doanh nhân Việt Nam 13/10, UBND tỉnh Phú Thọ gửi lời tri ân tới đội ngũ doanh nhân, cộng đồng DN và trân trọng cảm ơn các nhà đầu tư đã luôn tin tưởng, gắn bó, đồng hành cùng sự phát triển của địa phương; đồng thời mong tiếp tục nhận được niềm tin, sự đồng hành, những sáng kiến và tâm huyết của cộng đồng DN, cùng xây dựng tỉnh Phú Thọ ngày càng phát triển bền vững và thịnh vượng, đóng góp xứng đáng vào sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới.

