Phú Thọ vươn mình trong không gian phát triển mới (Kỳ 1): Từ hợp nhất không gian đến đổi mới mô hình phát triển

Để thực sự vươn mình, Phú Thọ không chỉ cần tăng trưởng nhanh hơn mà phải chuyển mạnh sang mô hình dựa trên tri thức, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đồng thời đưa tài nguyên và môi trường trở thành yếu tố quan trọng...

Lời Tòa soạn

Sau hợp nhất, Phú Thọ bước vào một giai đoạn phát triển mới với quy mô lớn hơn, nguồn lực đa dạng hơn và dư địa liên kết rộng mở hơn với diện tích tự nhiên 9.361km2, dân số hơn 4,1 triệu người. Nhưng một không gian hành chính lớn hơn không mặc nhiên tạo nên một nền kinh tế mạnh hơn. Cơ hội chỉ có thể chuyển hóa thành động lực phát triển khi địa phương lựa chọn đúng mô hình tăng trưởng, tổ chức lại hiệu quả các nguồn lực và xây dựng được bộ máy đủ năng lực đưa những quyết sách vào cuộc sống.

Tuyến bài “Phú Thọ vươn mình trong không gian phát triển mới” tiếp cận công tác xây dựng Đảng từ chính năng lực lãnh đạo phát triển của Đảng bộ tỉnh trong bối cảnh mới. Thay vì phản ánh thành tựu đơn thuần, tuyến bài tập trung trả lời câu hỏi: Phú Thọ cần làm gì để biến không gian mới sau hợp nhất thành thế và lực mới cho phát triển?

Qua 5 kỳ, tuyến bài lần lượt phân tích những mắt xích có tính quyết định: lựa chọn mô hình tăng trưởng nhanh nhưng bền vững; xây dựng đội ngũ cán bộ và bộ máy đủ năng lực thực thi; đổi mới tư duy quy hoạch để tổ chức lại không gian phát triển; thúc đẩy kinh tế tuần hoàn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên; và vượt khỏi tư duy địa giới hành chính để tăng cường liên kết vùng, tạo sức lan tỏa.

Từ góc nhìn kinh tế môi trường, tuyến bài hướng tới làm rõ một vấn đề xuyên suốt: Phú Thọ muốn vươn mình không chỉ cần tăng trưởng nhanh hơn, mà phải nâng cao chất lượng từng quyết sách, từng nguồn lực và từng đơn vị tăng trưởng, để không gian phát triển mới thực sự trở thành nền tảng cho một cực tăng trưởng xanh, bền vững trong giai đoạn mới.

Sau hợp nhất, Phú Thọ bước vào một không gian phát triển lớn hơn, đa dạng hơn về nguồn lực và cũng phức tạp hơn về quản trị. Những lựa chọn được Đảng bộ tỉnh xác lập từ Đại hội lần thứ I cho thấy hướng đi khá rõ: tăng trưởng cao nhưng phải dựa nhiều hơn vào năng suất, khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và gắn với bảo vệ môi trường. Đặt những lựa chọn ấy trước các yêu cầu mới của Trung ương về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển cho thấy nhiều điểm đồng hướng, đồng thời đặt ra những vấn đề Phú Thọ cần tiếp tục bổ sung trong quá trình hiện thực hóa mục tiêu trở thành cực tăng trưởng của vùng Thủ đô.

Sau sắp xếp đơn vị hành chính, Phú Thọ không chỉ mở rộng về diện tích, dân số và quy mô kinh tế. Quan trọng hơn, tỉnh có một không gian phát triển mới với sự hiện diện đồng thời của các vùng công nghiệp, đô thị, trung du, miền núi, nông nghiệp, rừng, nguồn nước và những khu vực có tiềm năng lớn về du lịch, dịch vụ. Đây là cơ hội nhưng cũng là một bài toán khó.

Bởi một địa giới hành chính lớn hơn không mặc nhiên tạo ra một nền kinh tế hiệu quả hơn. Lợi thế chỉ thực sự hình thành khi những nguồn lực vốn phân bố trong các không gian khác nhau được tổ chức lại, kết nối và bổ trợ cho nhau.

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030 đã đưa ra những lựa chọn đầu tiên cho bài toán ấy [1].

Gần một năm sau, những yêu cầu mới về phát triển vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia được Bộ Chính trị xác lập tại Nghị quyết 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 và quán triệt tại Hội nghị toàn quốc ngày 3/9/2026.

Do ra đời sau Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ, Nghị quyết 27 không phải căn cứ tạo nên những lựa chọn mà Phú Thọ đã đưa ra. Nhưng văn kiện mới lại cung cấp một hệ quy chiếu quan trọng để nhìn lại: Phú Thọ đã lựa chọn đúng hướng ở đâu và cần bổ sung điều gì cho chặng đường tiếp theo?

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I xác định đến năm 2030, Phú Thọ trở thành một trong những cực tăng trưởng của vùng Thủ đô; là trung tâm phát triển công nghiệp, thương mại, logistics, du lịch, y tế và đào tạo chất lượng cao.

Đến năm 2045, mục tiêu đặt ra là xây dựng Phú Thọ trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, có hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại, xã hội phồn vinh, người dân có chất lượng cuộc sống cao, môi trường sinh thái trong lành, đáng sống.

 Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I nhiệm kỳ 2025-2030 đã diễn ra thành công tốt đẹp. (Ảnh phutho.dcs.vn).

Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I nhiệm kỳ 2025-2030 đã diễn ra thành công tốt đẹp. (Ảnh phutho.dcs.vn).

Để hiện thực hóa tầm nhìn đó, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP giai đoạn 2026-2030 khoảng 11-12%/năm; đến năm 2030 quy mô nền kinh tế cao hơn hai lần năm 2025, GRDP bình quân đầu người đạt 220-230 triệu đồng. Đáng chú ý, đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp - TFP vào tăng trưởng được đặt ở mức 55-60%, kinh tế số trên 30% GRDP. Những chỉ tiêu này cho thấy tham vọng không dừng ở việc làm cho nền kinh tế lớn hơn.

Mục tiêu TFP 55-60% hàm ý một phần ngày càng lớn của tăng trưởng phải đến từ năng suất, công nghệ, tổ chức sản xuất, chất lượng lao động và hiệu quả quản trị, thay vì chủ yếu dựa vào việc đưa thêm đất đai, lao động, năng lượng và tài nguyên vào nền kinh tế. Đây cũng chính là điểm tăng trưởng cao gặp bài toán kinh tế môi trường.

Đất đai có giới hạn. Nguồn nước có giới hạn. Khả năng tiếp nhận chất thải của môi trường cũng có giới hạn. Một nền kinh tế tăng trưởng 11-12% mỗi năm nếu kéo theo mức sử dụng tài nguyên và phát thải tăng tương ứng sẽ sớm phải đối mặt với những chi phí ngày càng lớn.

Vì vậy, việc Nghị quyết Đại hội đặt tăng trưởng kinh tế trong quan hệ với bảo vệ môi trường sinh thái không nên chỉ được hiểu như hai mục tiêu song song. Trong giai đoạn tới, đây phải trở thành một nguyên tắc lựa chọn mô hình tăng trưởng. Tăng trưởng nhanh là cần thiết. Nhưng điều quan trọng hơn là mỗi đơn vị tài nguyên phải tạo ra ngày càng nhiều giá trị hơn. 

Sau hơn 1 năm sáp nhập tỉnh, ngày 9/7/2026 trong một buổi làm việc về các giải pháp chuyển đổi xanh trên địa bàn, Bí thư Tỉnh ủy Phú Thọ Phạm Đại Dương, Trưởng Ban Chỉ đạo về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đã phát biểu: Phú Thọ luôn kiên định mục tiêu phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, quyết tâm hành động cùng cả nước thực hiện cam kết đạt mức phát thải ròng bằng “0” (Net Zero) vào năm 2050. Trong bối cảnh dòng vốn đầu tư toàn cầu đang dịch chuyển mạnh mẽ sang các ngành công nghiệp sạch, Phú Thọ được đánh giá là điểm sáng thu hút các nhà đầu tư công nghệ cao, công nghệ xanh nhờ cơ chế thông thoáng và hạ tầng đồng bộ.

“Để phát huy tối đa vai trò quản lý nhà nước, Phú Thọ sẽ là cầu nối thúc đẩy sự gắn kết chặt chẽ giữa các chủ đầu tư khu công nghiệp, doanh nghiệp trên địa bàn với các nhà khoa học và nhà đầu tư công nghệ. Từ đó, lựa chọn và ứng dụng các giải pháp tối ưu nhất, phục vụ đắc lực cho sự phát triển kinh tế - xã hội bền vững của địa phương” – đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh [2].

Đặt Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh cạnh Nghị quyết 27-NQ/TW cho thấy nhiều điểm gặp đáng chú ý [3].

Trước hết là tư duy về cực tăng trưởng. Phú Thọ đã xác định mục tiêu trở thành một cực tăng trưởng của vùng Thủ đô. Nghị quyết 27 sau đó đặt yêu cầu phát huy mạnh hơn vai trò của các vùng động lực, hành lang kinh tế và cực tăng trưởng, không chỉ tạo tăng trưởng cho chính mình mà còn phải có khả năng dẫn dắt và lan tỏa. Điều này giúp nhìn mục tiêu của Phú Thọ ở một tầng cao hơn. Một cực tăng trưởng không đơn giản là địa phương có GRDP tăng nhanh. Nó phải tạo ra thị trường, kết nối chuỗi cung ứng, dịch vụ, logistics, công nghệ và việc làm cho một không gian rộng hơn.

 Bản đồ Phú Thọ sau sáp nhập. Nguồn TTXVN

Bản đồ Phú Thọ sau sáp nhập. Nguồn TTXVN

Điểm gặp thứ hai là tổ chức không gian phát triển. Nghị quyết 27 đặt yêu cầu khai thác hiệu quả không gian phát triển mới của các địa phương sau sắp xếp; tăng liên kết vùng và tổ chức phát triển dựa trên chức năng, tiềm năng, lợi thế, điều kiện tài nguyên và môi trường.

Đây là vấn đề rất sát với Phú Thọ. Sau hợp nhất, tỉnh có những khu vực mạnh về công nghiệp và đô thị; những vùng trung du, miền núi có lợi thế về rừng, nguồn nước, nông nghiệp và cảnh quan; cùng hệ thống giao thông tạo điều kiện kết nối với vùng Thủ đô và các tỉnh lân cận.

Nếu chỉ cộng cơ học các cấu trúc phát triển trước đây, dư địa mới sẽ khó phát huy hết giá trị. Không gian hành chính mới phải tạo ra không gian kinh tế mới. Điều đó đòi hỏi xác định rõ khu vực nào đóng vai trò động lực công nghiệp, đâu là không gian đô thị - dịch vụ, đâu cần ưu tiên nông nghiệp, du lịch, sinh thái và đâu phải được bảo vệ vì chức năng nguồn nước, rừng hay môi trường.

Nghị quyết 27 vì vậy không làm thay đổi hướng đi Phú Thọ đã lựa chọn, nhưng giúp đặt yêu cầu tổ chức lại không gian sau hợp nhất rõ hơn và ở quy mô lớn hơn.

Đồng hướng không có nghĩa là đã đầy đủ. Nếu mục tiêu 11-12% trả lời câu hỏi nền kinh tế phải tăng nhanh đến đâu, thì giai đoạn thực hiện cần thêm những thước đo để trả lời câu hỏi tăng trưởng bằng cách nào. Đây là điểm cần được làm sâu hơn dưới góc nhìn kinh tế môi trường.

Một dự án sử dụng hàng chục hecta đất không nên chỉ được đánh giá bằng tổng vốn đầu tư. Cần xem giá trị gia tăng tạo ra trên một đơn vị đất. Một ngành sử dụng nhiều nước phải được đặt trong tương quan với khả năng đáp ứng và sức chịu tải của nguồn nước. Một dự án có mức tiêu hao năng lượng hoặc phát sinh chất thải lớn cần được xem xét cả chi phí môi trường trong vòng đời hoạt động.

Khi những tiêu chí đó tham gia từ đầu vào quá trình lựa chọn đầu tư, bảo vệ môi trường sẽ không còn là khâu xử lý hệ quả sau phát triển. Môi trường được đưa từ cuối chuỗi lên đầu quá trình ra quyết định. Đây cũng là điểm Nghị quyết 27 gợi mở thêm cho Phú Thọ khi đặt tài nguyên và môi trường trong chính tư duy tổ chức không gian phát triển.

Sau hợp nhất, điều này càng quan trọng bởi các vấn đề môi trường không vận hành theo ranh giới hành chính. Nguồn nước chảy qua nhiều địa bàn. Ô nhiễm không khí có thể lan khỏi nơi phát sinh. Hoạt động ở thượng nguồn có thể tạo chi phí cho hạ lưu. Nếu một khu vực hưởng lợi kinh tế từ dự án nhưng khu vực khác phải gánh chi phí môi trường thì xét trên toàn tỉnh, phương án đó chưa chắc tạo ra hiệu quả tối ưu. Vì vậy, không gian mới tạo điều kiện để Phú Thọ quản trị đất, nước, hệ sinh thái và các dòng chất thải trên một quy mô thống nhất hơn. Đây có thể trở thành một trong những lợi thế lớn của quá trình hợp nhất nếu được phản ánh đầy đủ trong quy hoạch và lựa chọn dự án.

Tại Hội nghị khoa học về giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026–2030 ngày 6/6/2026, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông trực tiếp báo cáo Đề án tăng trưởng kinh tế “2 con số”. Ông nêu quan điểm tăng trưởng trên 2 con số là yêu cầu từ giai đoạn phát triển mới và khát vọng vươn lên của vùng Đất Tổ.

“Mục tiêu tăng trưởng được đặt trên nền tảng 4 nguyên tắc cốt lõi là: Tăng trưởng thực chất, không đánh đổi chất lượng, tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đơn thuần, tốc độ tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với chất lượng tăng trưởng dựa trên tăng năng suất các nhân tố tổng hợp, nâng cao chất lượng sản phẩm, sức cạnh tranh quốc gia và giá trị gia tăng thực chất. Ổn định kinh tế, đảm bảo các cân đối của nền kinh tế. Tận dụng hiệu quả mọi nguồn lực sẵn có, tập trung ưu tiên cho các dự án trọng điểm và thúc đẩy hợp tác công - tư, để gia tăng hiệu quả đầu tư và nâng cao năng lực cạnh tranh. Tăng trưởng kinh tế cao phải đảm bảo phục vụ lợi ích, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân và công bằng xã hội”, Chủ tịch UBND tỉnh Phú Thọ Trần Duy Đông cho biết [4].

Tư duy không đánh đổi chất lượng và tính bền vững lấy tốc độ tăng trưởng đang từng bước được cụ thể hóa trong điều hành. Ngày 23/3/2026, UBND tỉnh Phú Thọ ban hành Quyết định số 894/QĐ-UBND phê duyệt Đề án Thúc đẩy phát triển kinh tế xanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026–2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đáng chú ý, Đề án không chỉ đặt vấn đề “xanh” ở yêu cầu bảo vệ môi trường, mà định hình lại mô hình phát triển trên 4 trụ cột, gồm kinh tế xanh, tuần hoàn, carbon thấp; công nghiệp hiện đại, năng lượng sạch và chuyển đổi số; nông nghiệp sinh thái, nông thôn mới xanh, bền vững; văn hóa - xã hội xanh và đô thị đáng sống.

Điểm mới đáng chú ý là nhiều yêu cầu phát triển xanh đã được lượng hóa. Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu 60% doanh nghiệp áp dụng ESG, 30% có báo cáo phát triển bền vững và 100% cán bộ quản lý cấp tỉnh, cấp xã được đào tạo về quản trị phát triển xanh. Cùng với đó là định hướng xây dựng mô hình khu công nghiệp sinh thái, từng bước hình thành thị trường carbon cấp địa phương, triển khai hệ thống đo đạc, báo cáo và thẩm định phát thải (MRV), tích hợp dữ liệu kinh tế - môi trường - năng lượng phục vụ quản lý phát triển xanh. Đặc biệt, một trong ba đột phá chiến lược được xác định là cải thiện môi trường đầu tư, thể chế và quản trị công xanh, minh bạch, gắn với xây dựng Hệ thống quản lý phát triển xanh trực tuyến để giám sát, đánh giá hiệu quả chuyển đổi xanh  [7].

Những mục tiêu này cho thấy yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng ở Phú Thọ đang dần được chuyển từ định hướng sang các tiêu chí quản trị cụ thể. Tăng trưởng cao, theo đó, không chỉ được đo bằng tốc độ gia tăng GRDP, mà còn phải đi cùng hiệu quả sử dụng tài nguyên, năng lượng, khả năng giảm phát thải và chất lượng quản trị phát triển.

Nhìn nhận về Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030, PGS.TS Trương Mạnh Tiến – Chủ tịch Hội Kinh tế Môi trường Việt Nam cho rằng, điểm đáng chú ý là tỉnh đã đặt mục tiêu tăng trưởng cao trong mối quan hệ với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và bảo vệ môi trường. Đây là hướng đi phù hợp với yêu cầu phát triển của một địa phương có quy mô và không gian kinh tế lớn hơn sau hợp nhất.

Tuy nhiên, theo PGS.TS Trương Mạnh Tiến, thách thức của Phú Thọ trong giai đoạn tới không chỉ là đạt được tốc độ tăng trưởng 11–12%/năm, mà quan trọng hơn là chất lượng của từng đơn vị tăng trưởng được tạo ra. Khi công nghiệp, đô thị, hạ tầng và thu hút đầu tư cùng mở rộng, hiệu quả sử dụng đất đai, tài nguyên nước, năng lượng và khả năng tiếp nhận chất thải của môi trường cần trở thành những yếu tố được tính toán ngay từ quá trình lựa chọn mô hình, ngành, lĩnh vực và dự án phát triển.

Từ góc nhìn kinh tế môi trường, GS.TS Trương Mạnh Tiến cho rằng, tăng trưởng cao chỉ thực sự bền vững khi giá trị kinh tế tạo ra ngày càng ít phụ thuộc hơn vào việc gia tăng đầu vào tài nguyên và năng lượng. Điều đó cũng có nghĩa, bên cạnh các chỉ tiêu về GRDP, thu ngân sách hay vốn đầu tư, Phú Thọ cần từng bước quan tâm nhiều hơn tới giá trị gia tăng trên một đơn vị đất, hiệu quả sử dụng nước và năng lượng, mức độ tuần hoàn tài nguyên, giảm phát thải cũng như chi phí môi trường của quá trình phát triển.

Theo ông, đây cũng là yêu cầu để mục tiêu trở thành cực tăng trưởng không chỉ được thể hiện bằng quy mô hay tốc độ, mà còn bằng chất lượng và sức cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.

“Phú Thọ phải tạo ra tăng trưởng cao nhưng sử dụng ít tài nguyên hơn, tạo giá trị gia tăng lớn hơn và không chuyển chi phí môi trường cho tương lai”, PGS.TS Trương Mạnh Tiến.

Dưới góc độ nghiên cứu, GS.TS Nguyễn Xuân Cự (nguyên Giảng viên trường Đại học Khoa học Tự nhiên - Đại học Quốc gia Hà Nội) cho rằng: Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025–2030 đã xác định tương đối toàn diện mục tiêu, nhiệm vụ, khâu đột phá và các động lực phát triển của tỉnh, tập trung vào cải cách hành chính, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kết cấu hạ tầng, kinh tế tư nhân, văn hóa và du lịch. Đây là cơ sở quan trọng để xây dựng chương trình, kế hoạch phát triển tỉnh trong nhiệm kỳ.

Tuy nhiên, các nghị quyết, chỉ thị mới của Bộ Chính trị được quán triệt tại Hội nghị toàn quốc ngày 3/9/2026 đặt ra một số yêu cầu mới về tổ chức không gian phát triển, quản trị thực thi, công tác cán bộ, tư tưởng – xã hội, phát triển du lịch và huy động nguồn lực trong và ngoài nước. Do đó, chưa cần thiết điều chỉnh Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ I mà cần tập trung rà soát, bổ sung vào Chương trình hành động, kế hoạch thực hiện và cơ chế, chính sách của tỉnh.

Một là, về tổ chức không gian phát triển, cần chuyển mạnh từ liên kết theo địa giới hành chính sang tổ chức phát triển theo cực tăng trưởng, hành lang kinh tế, chuỗi giá trị và lợi thế chức năng; xác định rõ vai trò của Phú Thọ trong không gian phát triển vùng, nhất là các trục Việt Trì – Vĩnh Yên, công nghiệp, logistics, đô thị và du lịch.

Hai là, về cán bộ và thực thi công vụ, cần hoàn thiện cơ chế giao nhiệm vụ gắn với giao quyền, nguồn lực và trách nhiệm, đánh giá cán bộ trên cơ sở sản phẩm, tiến độ và kết quả. Đồng thời, có cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung; xử lý rõ tình trạng né tránh, đùn đẩy, trì trệ.

Ba là, về công tác tư tưởng và xã hội, cần chuyển từ chủ yếu cung cấp, định hướng thông tin sang chủ động nắm bắt, dự báo và cảnh báo sớm; từng bước xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ phân tích dư luận, nhận diện vấn đề và tham mưu xử lý từ sớm, từ xa.

Bốn là, về du lịch, cần chuyển từ khai thác đơn lẻ di sản, lễ hội sang phát triển hệ sinh thái kinh tế du lịch, hình thành sản phẩm đặc trưng, chuỗi dịch vụ và liên kết vùng; đẩy mạnh chuyển đổi số, du lịch xanh.

Năm là, về huy động nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài, cần hình thành mạng lưới người Phú Thọ ở nước ngoài, tập trung thu hút tri thức, công nghệ, vốn, thị trường và kết nối quốc tế, gắn với lĩnh vực, dự án và nhu cầu phát triển cụ thể của tỉnh.

Sáu là, về xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị, cần cụ thể hóa thành nhiệm vụ, chuẩn mực hành động và sản phẩm đo lường được, gắn với trách nhiệm người đứng đầu và kết quả thực hiện nhiệm vụ.

"Tỉnh ủy chỉ đạo rà soát, cập nhật Chương trình hành động và các kế hoạch triển khai; hoàn thiện cơ chế cán bộ theo kết quả; xây dựng hệ thống dữ liệu phục vụ dự báo xã hội; nâng cấp du lịch theo hướng hệ sinh thái và giá trị gia tăng cao; hình thành mạng lưới nguồn lực người Phú Thọ ở nước ngoài; đồng thời đổi mới phương thức tổ chức thực hiện nghị quyết theo hướng quản trị bằng mục tiêu, sản phẩm, tiến độ và dữ liệu.

Nhìn tổng thể, yêu cầu đặt ra không phải là thay đổi định hướng chiến lược đã được Đại hội xác định, mà là nâng cấp tầng triển khai, chuyển từ định hướng phát triển sang kiến trúc phát triển, từ ban hành và triển khai nghị quyết sang quản trị thực thi có mục tiêu, trách nhiệm và kết quả cụ thể", GS.TS Nguyễn Xuân Cự nhấn mạnh.

Các chuyên gia được Tạp chí Kinh tế Môi trường tham vấn khi thực hiện tuyến bài viết này đều cho rằng: Nhìn từ những yêu cầu mới của Trung ương, có thể thấy nhiều lựa chọn được Đảng bộ Phú Thọ xác lập từ năm 2025 đang đi cùng hướng. Mục tiêu trở thành cực tăng trưởng gặp yêu cầu phát huy các cực tăng trưởng. Chủ trương tăng liên kết gặp yêu cầu tổ chức lại không gian phát triển. Mục tiêu nâng TFP gặp yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng. Định hướng bảo vệ môi trường gặp yêu cầu phát triển dựa trên điều kiện tài nguyên và sức chịu tải. Đó là những cơ sở để Phú Thọ tiếp tục triển khai con đường đã lựa chọn.

Nhưng Nghị quyết 27 cũng nâng tiêu chuẩn cho giai đoạn tiếp theo. Phú Thọ cần làm rõ hơn vai trò của mình trong không gian vùng Thủ đô; tổ chức lại các vùng động lực và hành lang kinh tế sau hợp nhất; đưa hiệu quả tài nguyên và sức chịu tải môi trường sâu hơn vào lựa chọn phát triển; đồng thời biến lợi thế của một địa bàn lớn hơn thành các chuỗi giá trị và liên kết kinh tế thực sự. Ở đây, năng lực lãnh đạo không chỉ được thể hiện ở việc lựa chọn đúng một hướng đi tại thời điểm ban hành nghị quyết. Năng lực ấy còn nằm ở khả năng cập nhật những yêu cầu mới, nhận diện những khoảng trống và điều chỉnh cách tổ chức thực hiện.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh đã xác lập tầm nhìn. Những yêu cầu mới của Trung ương cung cấp thêm hệ quy chiếu để kiểm chứng và hoàn thiện tầm nhìn đó.

Còn việc tầm nhìn có trở thành một Phú Thọ tăng trưởng nhanh, sử dụng tài nguyên hiệu quả và thực sự trở thành cực tăng trưởng xanh hay không sẽ phụ thuộc vào một mắt xích khác: Năng lực thực thi của bộ máy và đội ngũ cán bộ.

Kỳ tiếp theo: "Khi năng lực lãnh đạo được đo bằng hiệu quả thực thi"

Tài liệu tham khảo

1. Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Phú Thọ lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 - 2030
https://baophutho.vn/nghi-quyet-dai-hoi-dai-bieu-dang-bo-tinh-phu-tho-lan-thu-i-nhiem-ky-2025-2030-240441.htm 

2. Đẩy mạnh chuyển đổi xanh: Động lực cho sự phát triển bền vững của Đất Tổ
https://baophutho.vn/day-manh-chuyen-doi-xanh-dong-luc-cho-su-phat-trien-ben-vung-cua-dat-to-257618.htm

3. Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 28/8/2026 của Bộ Chính trị về phát triển các vùng và tổ chức không gian phát triển quốc gia trong giai đoạn mới
https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/van-ban-cua-dang/nghi-quyet-so-27-nq-tw-ngay-28-8-2026-cua-bo-chinh-tri-ve-phat-trien-cac-vung-va-to-chuc-khong-gian-phat-trien-quoc-gia-.htm

4.Hội nghị khoa học về giải pháp thúc đẩy tăng trưởng kinh tế 2 con số tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026 – 2030 https://phutho.dcs.vn/ContentDetail/NewsDetailView?NewsId=05d6abfa-fe3e-4fbb-bd9b-d9b67d6a79ee

5.Khơi thông nguồn lực, tạo đột phá phát triển sau hợp nhất 
https://baophutho.vn/khoi-thong-nguon-luc-tao-dot-pha-phat-trien-sau-hop-nhat-257023.htm

6. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh ban hành Quyết định phê duyệt Đề án Tăng trưởng kinh tế “2 con số” của tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2026-2030, tầm nhìn 2045

https://phutho.dcs.vn/ContentDetail/NewsDetailView?NewsId=624215ac-72b6-4d77-8133-515015265ad3&utm

7. Phú Thọ: Thúc đẩy phát triển kinh tế xanh trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2026 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 https://phutho.dcs.vn/ContentDetail/NewsDetailView?NewsId=6cefdd7f-a29c-487c-a2fa-a0616faaa685

Xuân Hòa

Nguồn Kinh tế Môi trường: https://kinhtemoitruong.vn/phu-tho-vuon-minh-trong-khong-gian-phat-trien-moi-ky-1-tu-hop-nhat-khong-gian-den-doi-moi-mo-hinh-phat-trien-118398.html