PV OIL, Petrolimex nói gì về đề xuất quản lý xăng dầu mới?
Các doanh nghiệp xăng dầu đề nghị cơ quan soạn thảo tiếp tục điều chỉnh nhiều quy định về hệ thống phân phối, điều kiện kinh doanh, phân bổ chi phí và Quỹ bình ổn giá.

Tại hội nghị lấy ý kiến về dự thảo Nghị định thay thế các nghị định của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu do Bộ Công Thương tổ chức mới đây, nhiều doanh nghiệp lớn đã nêu ý kiến về những thay đổi trong cơ cấu hệ thống phân phối, điều kiện cấp phép thương nhân đầu mối và cơ chế điều hành giá.
Một trong những nội dung nhận được nhiều ý kiến là quy định thương nhân phân phối được mua xăng dầu từ một hoặc nhiều thương nhân đầu mối, thậm chí từ các thương nhân phân phối khác.
Dự thảo Nghị định lần thứ 14 đưa ra 2 phương án về vấn đề này, trong đó phương án 1 cho phép thương nhân phân phối mua hàng từ một hoặc nhiều thương nhân đầu mối, còn phương án 2 mở rộng thêm quyền mua hàng từ các thương nhân phân phối khác.
Bên cạnh việc tạo điều kiện cho thương nhân phân phối tiếp cận nhiều nguồn hàng, thay đổi này cũng làm một số doanh nghiệp lo ngại về khả năng đáp ứng điều kiện cấp phép của thương nhân đầu mối, đặc biệt là yêu cầu có tối thiểu 40 thương nhân phân phối thuộc hệ thống.
Doanh nghiệp đầu mối muốn bỏ điều kiện 40 thương nhân phân phối
Theo ông Đỗ Hoàng Hà, Trưởng ban Kinh doanh Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam (Petrolimex), dự thảo Nghị định đã có những thay đổi đáng kể trong cơ cấu hệ thống phân phối, đặc biệt là việc cho phép thương nhân phân phối mua xăng dầu từ nhiều nguồn khác nhau.
Tuy nhiên, thay đổi này có thể tác động trực tiếp đến điều kiện cấp phép thương nhân đầu mối. Cụ thể, tại khoản 1 Điều 10, dự thảo quy định thương nhân đầu mối phải có tối thiểu 40 thương nhân phân phối thuộc hệ thống phân phối của mình.
Ông Hà cho rằng khi thương nhân phân phối được quyền mua hàng từ nhiều thương nhân đầu mối, họ sẽ không còn nhất thiết thuộc một hệ thống phân phối duy nhất. Nếu áp dụng phương án 2, cho phép thương nhân phân phối mua hàng từ cả các thương nhân phân phối khác, mối liên kết giữa các đơn vị trong hệ thống đầu mối càng trở nên linh hoạt hơn.
Điều này có thể khiến các thương nhân đầu mối gặp khó khăn trong việc duy trì đủ 40 thương nhân phân phối trực thuộc, từ đó tiềm ẩn nguy cơ không đáp ứng điều kiện để được cấp phép hoạt động.
Trong khi đó, dự thảo Nghị định đã nâng cao một số yêu cầu về năng lực của thương nhân đầu mối, bao gồm sở hữu kho xăng dầu tối thiểu 15.000 m3, bảo đảm dự trữ lưu thông 20 ngày và có tổng nguồn xăng dầu được phân giao tối thiểu 300.000 m3/năm.

Các doanh nghiệp xăng dầu đề nghị điều chỉnh nhiều quy định về hệ thống phân phối. Ảnh: Việt Linh.
Theo đại diện Petrolimex, những điều kiện này đã phản ánh trực tiếp hơn năng lực tạo nguồn, dự trữ và bảo đảm cung ứng xăng dầu của thương nhân đầu mối. Do đó, yêu cầu có 40 thương nhân phân phối trực thuộc không còn là tiêu chí thực sự cần thiết để đánh giá năng lực của doanh nghiệp.
Đồng quan điểm, đại diện Công ty Phúc Lộc Ninh cho rằng việc duy trì điều kiện này trong bối cảnh thương nhân phân phối được phép mua hàng từ nhiều đầu mối có thể khiến doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc xây dựng hệ thống phân phối.
Đại diện doanh nghiệp đặt vấn đề liệu thương nhân đầu mối có thể thay thế yêu cầu về 40 thương nhân phân phối bằng việc sở hữu thêm các cửa hàng bán lẻ hay không. Theo doanh nghiệp, trong một số trường hợp, thương nhân phân phối có thể không muốn trở thành đơn vị trực thuộc mà muốn chuyển nhượng toàn bộ hoạt động kinh doanh cho thương nhân đầu mối.
Do đó, doanh nghiệp đề xuất hoặc bỏ điều kiện 40 thương nhân phân phối, hoặc cho phép thay thế một phần điều kiện này bằng hệ thống cửa hàng bán lẻ thuộc sở hữu của thương nhân đầu mối.
Đại diện Anh Phát Petro, một thương nhân đầu mối tại khu vực miền Trung, cũng tán thành đề xuất trên. Theo doanh nghiệp, nếu thương nhân đầu mối phải duy trì 40 thương nhân phân phối trực thuộc, các đơn vị này có thể bị hạn chế quyền lựa chọn nguồn hàng từ những đầu mối khác, đi ngược với mục tiêu mở rộng quyền mua bán mà dự thảo đang hướng tới.
PV OIL và Petrolimex cùng nghiêng về một phương án
Về phương án tổ chức hệ thống phân phối, ông Đỗ Hoàng Hà cho biết Petrolimex ủng hộ phương án 1, theo đó thương nhân phân phối được mua xăng dầu từ một hoặc nhiều thương nhân đầu mối, thay vì mở rộng giao dịch sang cả các thương nhân phân phối khác như phương án 2.
Theo đại diện Petrolimex, việc cho phép thương nhân phân phối tiếp cận nhiều nguồn cung từ các đầu mối đã tạo ra một thị trường mở hơn, tăng quyền lựa chọn của doanh nghiệp và bảo đảm tính cạnh tranh. Trong khi đó, việc cho phép các thương nhân phân phối mua bán xăng dầu với nhau có thể khiến thương nhân đầu mối khó xác định sản lượng cần tạo nguồn để đáp ứng nhu cầu của hệ thống, đặc biệt trong những giai đoạn thị trường biến động.
Cùng quan điểm, ông Hoàng Đình Tùng, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Dầu Việt Nam (PV OIL), cũng đề nghị lựa chọn phương án 1. Tuy nhiên, đại diện PV OIL đồng thời kiến nghị làm rõ cơ chế mua bán giữa các công ty con, chi nhánh trong cùng hệ thống thương nhân đầu mối.
Theo ông Tùng, trên thực tế, các công ty con và chi nhánh của một thương nhân đầu mối hiện chủ yếu mua hàng từ công ty mẹ, chưa được phép mua bán trực tiếp với nhau. Trong khi đó, các đơn vị thành viên của PV OIL hoạt động trên nhiều địa bàn, có những thời điểm khu vực này dư thừa nguồn hàng nhưng khu vực khác lại thiếu hụt.
Việc cho phép các đơn vị thành viên mua bán hàng hóa với nhau có thể giúp doanh nghiệp điều chuyển nguồn cung linh hoạt hơn, giảm chi phí vận chuyển và đáp ứng nhu cầu của những khách hàng có hoạt động kinh doanh trên nhiều khu vực.
Đại diện PV OIL nhấn mạnh giao dịch giữa các công ty con, chi nhánh trong cùng hệ thống có bản chất khác với hoạt động mua bán giữa các thương nhân phân phối độc lập. Các đơn vị thành viên vẫn nằm trong hệ thống của thương nhân đầu mối, vốn phải chịu trách nhiệm bảo đảm nguồn cung cho toàn bộ mạng lưới. Việc mua bán nội bộ về cơ bản nhằm cân đối nguồn hàng giữa các khu vực, trong khi hóa đơn, chứng từ và nghĩa vụ thuế vẫn được thực hiện theo quy định.
Từ thực tế này, PV OIL đề nghị Ban soạn thảo xem xét cơ chế cho phép các đơn vị thành viên trong cùng hệ thống thương nhân đầu mối được mua bán, điều chuyển hàng hóa với nhau.

PV OIL và Petrolimex đề nghị cho phép thương nhân phân phối mua hàng từ một hoặc nhiều thương nhân đầu mối. Ảnh: Hoài Bảo.
Đối với phương án cho phép thương nhân phân phối mua hàng từ nhiều nguồn, ông Tùng cho rằng nếu thương nhân phân phối được mua hàng từ cả các thương nhân phân phối khác, thương nhân đầu mối sẽ khó xác định chính xác sản lượng cần tạo nguồn để cung ứng cho hệ thống, đặc biệt trong những giai đoạn thị trường biến động.
Theo đại diện PV OIL, thương nhân đầu mối là đơn vị trực tiếp tạo nguồn từ nhập khẩu và sản xuất trong nước, đồng thời được giao trách nhiệm bảo đảm nguồn hàng cho hệ thống phân phối. Vì vậy, cơ chế quản lý cần giúp doanh nghiệp xác định được sản lượng phải cung ứng, qua đó làm rõ trách nhiệm khi xảy ra tình trạng thiếu hụt nguồn hàng.
PV OIL cho rằng việc mở rộng quá nhiều tầng giao dịch có thể khiến trách nhiệm bảo đảm nguồn cung của thương nhân đầu mối khó được xác định rõ ràng. Do đó, doanh nghiệp đề nghị cơ quan soạn thảo cân nhắc lựa chọn phương án 1, đồng thời có cơ chế phù hợp để thương nhân đầu mối chủ động xây dựng kế hoạch tạo nguồn và chịu trách nhiệm với sản lượng đã cam kết.
Doanh nghiệp bán lẻ lo chi phí kinh doanh không đến được tay
Bên cạnh những vấn đề về hệ thống phân phối, cơ chế xác định giá bán lẻ và phân bổ chi phí kinh doanh cũng là nội dung được các doanh nghiệp quan tâm.
Ông Ngô Xuân Thắng, Tổng giám đốc Công ty TNHH Hải Âu Phát (Lâm Đồng), cho biết doanh nghiệp đồng tình với công thức tính giá xăng dầu trong dự thảo nhưng cho rằng cách diễn giải về chi phí kinh doanh định mức và lợi nhuận vẫn chưa phù hợp với cơ cấu phân phối mới.
Theo ông Thắng, khi hệ thống phân phối được cơ cấu lại, chi phí kinh doanh định mức cần được tính toán phù hợp với vai trò của các thương nhân tham gia thị trường, thay vì chủ yếu căn cứ vào báo cáo chi phí của những doanh nghiệp đầu mối quy mô lớn như Petrolimex hay PV OIL.
Đáng chú ý, ông Thắng cho rằng quy định về lợi nhuận trong công thức tính giá cần được điều chỉnh để phản ánh đúng thực tế kinh doanh của các doanh nghiệp ở từng khâu.
Nếu lợi nhuận trong công thức tính giá được xác định theo mức do thương nhân đầu mối quyết định, các thương nhân phân phối và bán lẻ có thể không được bảo đảm phần lợi nhuận tương ứng với chi phí và hoạt động kinh doanh của mình.
Ông Thắng nếu ví dụ doanh nghiệp mong muốn mức lợi nhuận khoảng 700-1.200 đồng/lít. Tuy nhiên, nếu công thức chỉ quy định lợi nhuận do thương nhân đầu mối xác định, các doanh nghiệp phân phối và bán lẻ sẽ khó có cơ sở để bảo đảm phần lợi nhuận cần thiết, nhất là khi chi phí kinh doanh định mức không được phân bổ đầy đủ đến các khâu sau.
Đại diện Hải Âu Phát đề nghị cơ quan soạn thảo xem xét điều chỉnh cách diễn đạt trong công thức tính giá, theo hướng lợi nhuận do thương nhân kinh doanh xăng dầu xác định, thay vì chỉ do thương nhân đầu mối quyết định.
Theo ông, nếu các doanh nghiệp phân phối và bán lẻ không được bảo đảm chi phí kinh doanh cũng như lợi nhuận phù hợp, hoạt động kinh doanh có thể không còn hiệu quả, thậm chí phát sinh tình trạng phải bán hàng với mức giá không đủ bù đắp chi phí mua và vận chuyển.
Đây cũng là lý do doanh nghiệp đề nghị Bộ Công Thương làm rõ cơ chế phân bổ chi phí và lợi nhuận giữa các khâu trong chuỗi cung ứng, bảo đảm công thức tính giá phản ánh được đặc thù hoạt động của từng nhóm thương nhân.
Kiến nghị bình ổn giá theo từng lít xăng dầu bán ra
Một nội dung khác được Hải Âu Phát đề cập là cơ chế bình ổn giá xăng dầu. Theo ông Ngô Xuân Thắng, chính sách bình ổn cần hướng đến mục tiêu ổn định giá bán đến tay người tiêu dùng, thay vì tập trung vào lượng xăng dầu nhập về hoặc được đưa vào kho dự trữ.
Đại diện doanh nghiệp cho rằng nếu cơ chế bình ổn được áp dụng theo lượng hàng nhập vào, những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính và khả năng nhập khẩu lớn có thể có lợi thế hơn trong việc tiếp cận nguồn hỗ trợ, trong khi các doanh nghiệp bán lẻ vẫn phải đối mặt với tình trạng thiếu hàng hoặc không thể mua đủ lượng xăng dầu phục vụ kinh doanh.
Ông Thắng dẫn thực tế trong những giai đoạn thị trường gặp khó khăn về nguồn cung, doanh nghiệp bán lẻ có thời điểm chỉ mua được khoảng 15-20% lượng hàng so với nhu cầu. Trong khi đó, nếu lượng hàng tồn kho của các doanh nghiệp đầu mối được tính vào cơ chế bình ổn, khoản hỗ trợ có thể không phản ánh đầy đủ lượng xăng dầu thực tế được bán ra thị trường trong từng kỳ điều hành.
Trong trường hợp giá thế giới liên tục tăng, lượng hàng tồn kho có thể được hưởng mức hỗ trợ qua nhiều kỳ điều chỉnh giá, trong khi người tiêu dùng và các doanh nghiệp bán lẻ không nhất thiết được hưởng lợi tương ứng.
Do đó, Hải Âu Phát đề xuất nghiên cứu cơ chế bình ổn theo từng lít xăng dầu thực tế bán ra thị trường, căn cứ vào hóa đơn bán lẻ điện tử. Theo đề xuất này, mức bình ổn sẽ được áp dụng trực tiếp trên lượng hàng được bán đến người tiêu dùng trong từng khoảng thời gian điều hành, thay vì tính trên lượng hàng nhập kho.
Ông Thắng cho rằng cách tiếp cận này sẽ giúp khoản hỗ trợ gắn sát hơn với mục tiêu bình ổn giá bán lẻ. Đồng thời, cơ chế này cũng cần tính đến thực tế các doanh nghiệp bán lẻ có thể gặp khó khăn trong tiếp cận nguồn hàng, khiến họ vừa không có đủ sản phẩm để kinh doanh, vừa phải chịu tác động từ biến động giá và chi phí.
Một vướng mắc khác liên quan đến thời điểm xác định lượng hàng dự trữ lưu thông và nghĩa vụ trích lập Quỹ bình ổn giá xăng dầu.
Đại diện Anh Phát Petro cho biết trong một số giao dịch, doanh nghiệp đã bán xăng dầu cho thương nhân đầu mối khác, xuất hóa đơn và chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua. Tuy nhiên, lượng hàng này vẫn được lưu trữ tại kho chung và chưa được đưa ra thị trường.
Trong trường hợp này, doanh nghiệp cho rằng nghĩa vụ trích lập Quỹ bình ổn cần được xác định tại thời điểm hàng hóa đã chuyển quyền sở hữu và xuất hóa đơn. Tuy nhiên, theo phản ánh của doanh nghiệp, một số cơ quan thanh tra, kiểm tra lại có cách hiểu rằng hàng hóa chưa được đưa ra thị trường thì chưa đủ điều kiện để trích lập.
Tình huống tương tự cũng phát sinh khi doanh nghiệp mua hàng từ các nhà máy lọc dầu như Bình Sơn hoặc Nghi Sơn. Dù hàng hóa đã được xuất bán và chuyển quyền sở hữu cho doanh nghiệp, hàng vẫn có thể chưa được vận chuyển về kho của bên mua.
Do đó, Anh Phát Petro đề nghị cơ quan soạn thảo làm rõ thời điểm xác định lượng hàng dự trữ lưu thông trong các trường hợp đã chuyển quyền sở hữu nhưng hàng hóa vẫn đang trong quá trình vận chuyển hoặc được lưu trữ tại kho chung, nhằm tránh những cách hiểu khác nhau trong quá trình thực thi.
