Quản lý an toàn thực phẩm dựa trên nhận diện và phòng ngừa nguy cơ từ sớm
Không còn chờ có sự cố xảy ra mới xử lý, ngành Y tế đang định hình lại tư duy quản lý an toàn thực phẩm hoàn toàn mới thông qua dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi). Trọng tâm của sự thay đổi này là hệ thống dữ liệu quốc gia liên thông, giúp nhận diện sớm mối nguy và kiểm soát chặt chẽ từ nông trại đến bàn ăn...

Ảnh minh họa: Thu Hằng.
Dự án Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) dự kiến được Chính phủ trình Quốc hội xem xét, cho ý kiến lần đầu tại Kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XVI.
ĐÁNH GIÁ NGUY CƠ THEO CHUẨN QUỐC TẾ
Cục An toàn thực phẩm (Bộ Y tế) cho biết Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) đánh dấu bước đột phá về đổi mới tư duy quản lý an toàn thực phẩm. Theo đó, kiểm soát an toàn thực phẩm được thực hiện từ gốc thông qua việc kiểm soát nguy cơ theo từng “mắt xích” của chuỗi cung ứng sản phẩm.
Từ việc kiểm soát tồn dư lượng thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật và các tác nhân gây ô nhiễm tại khâu sản xuất ban đầu như trồng trọt, chăn nuôi, thu hái đến chế biến, sản xuất, kinh doanh cho tới tận tay người tiêu dùng.
Chuyển từ “kiểm soát từng khâu riêng lẻ, ứng phó bị động” sang “quản lý toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm dựa trên nguy cơ” và “phòng ngừa từ sớm” bằng phân tích nguy cơ.
Việc đánh giá nguy cơ thực hiện theo hướng dẫn của Ủy ban Tiêu chuẩn thực phẩm quốc tế CODEX (Food Safety Risk Analysis – A guide for national food safety authorities), bao gồm: Đánh giá nguy cơ, quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ.
Đánh giá nguy cơ là xác định các mối nguy, không bảo đảm an toàn trong mỗi “mắt xích” dựa trên các bằng chứng khoa học và cơ sở dữ liệu về an toàn thực phẩm. Đây là hoạt động độc lập với quản lý nguy cơ và truyền thông nguy cơ.
Kết quả đánh giá nguy cơ là căn cứ để cơ quan quản lý đưa ra quyết định điều chỉnh biện pháp quản lý như: Xây dựng, ban hành quy định kỹ thuật về an toàn thực phẩm; kiểm tra nhà nước đối với thực phẩm nhập khẩu; truy xuất nguồn gốc đối với thực phẩm; biện pháp hậu kiểm đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
CẦN MỘT CƠ SỞ DỮ LIỆU LIÊN THÔNG
Hiện nay, dự thảo Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi) giao Bộ trưởng Bộ Y tế ban hành quy định về phân tích nguy cơ về an toàn thực phẩm theo các hướng dẫn của tổ chức quốc tế; chủ trì, phối hợp với các bộ, ngành liên quan tổ chức thực hiện phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm.

Thực phẩm đóng gói được bày bán tại siêu thị. Ảnh: Thu Hằng.
Để có thể triển khai được hoạt động phân tích nguy cơ, cần một cơ sở dữ liệu an toàn thực phẩm quốc gia liên thông gồm: Thông tin về vòng đời sản phẩm; thông tin về cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm; thông tin về tổ chức thử nghiệm phục vụ quản lý nhà nước; thông tin về kết quả thanh tra, kiểm tra, giám sát; thông tin về ngộ độc thực phẩm.
Cơ sở dữ liệu thông tin an toàn thực phẩm được quản lý tập trung, thống nhất. Bộ Y tế có trách nhiệm tổ chức xây dựng, quản lý và phát triển cơ sở dữ liệu, hạ tầng kỹ thuật của hệ thống thông tin an toàn thực phẩm trên cơ sở cập nhật, tích hợp thông tin, dữ liệu toàn ngành an toàn thực phẩm; kết nối, chia sẻ thống nhất với hệ thống thông tin, dữ liệu của Ủy ban nhân dân các cấp và hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung quốc gia.
Liên quan đến vấn đề này, tại Hội nghị khoa học quốc tế Kiểm nghiệm thực phẩm 2026, diễn ra trong hai ngày 15-16/10 tại Hà Nội, Thứ trưởng Bộ Y tế Đỗ Xuân Tuyên cũng nhấn mạnh, trong bối cảnh chuỗi cung ứng ngày càng phức tạp, giao thương quốc tế mở rộng, các mối nguy truyền thống và mới nổi cùng tồn tại, công tác quản lý an toàn thực phẩm cần chuyển mạnh từ phương thức chủ yếu phát hiện, xử lý sang chủ động nhận diện mối nguy, đánh giá nguy cơ, giám sát và phòng ngừa từ sớm.
Theo Thứ trưởng, kiểm nghiệm và thử nghiệm thực phẩm có vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình chuyển đổi này. Dữ liệu phân tích chính xác, tin cậy và kịp thời không chỉ giúp phát hiện các chỉ tiêu không bảo đảm an toàn, mà còn cung cấp bằng chứng khoa học phục vụ đánh giá nguy cơ, xây dựng tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, tổ chức hậu kiểm, điều tra sự cố và truyền thông nguy cơ.
Hiện nay, công tác quản lý an toàn thực phẩm đang chuyển mạnh từ phương thức kiểm tra truyền thống, sang quản lý dựa trên phân tích, đánh giá nguy cơ, gắn với tăng cường hậu kiểm.
Theo Bộ Y tế, việc triển khai phân tích nguy cơ vào thực tế sẽ chủ động ngăn ngừa các sự cố không bảo đảm an toàn vệ sinh thực phẩm. Khi phát hiện “mắt xích” nào có nguy cơ cao, tiến hành truy xuất nguồn gốc, thu hồi sản phẩm.
Cơ quan quản lý sẽ chủ động đánh giá và dự báo trước các mối nguy không bảo đảm an toàn thực phẩm (hóa lý, vi sinh, chất gây dị ứng) có thể xảy ra.
Sự thay đổi này giúp tối ưu hóa nguồn lực, ngăn chặn thực phẩm không an toàn ngay từ gốc và chủ động phòng ngừa nguy cơ mất an toàn thực phẩm ngay từ đầu. Đây là biện pháp hiện đại theo mô hình quốc tế; là bước đi tất yếu để bảo vệ sức khỏe nhân dân một cách hiệu quả và khoa học hơn.
