Đổi mới căn bản tư duy và phương thức quản trị nhân tài
Kết luận số 105-KL/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV đặt ra yêu cầu đổi mới căn bản tư duy và phương thức quản trị nhân tài, chuyển từ quản lý theo tổ chức, biên chế sang trọng dụng dựa trên nhiệm vụ, sản phẩm và giá trị cống hiến. Đây là bước chuyển quan trọng nhằm tháo gỡ điểm nghẽn thể chế, phát huy nguồn lực trí tuệ và tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh, bền vững.
Chuyển từ quản lý biên chế sang quản trị nhân tài
Trình bày Chuyên đề 5 về “Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”, Bí thư Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà nhấn mạnh, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm phát hiện, thu hút, trọng dụng nhân tài. Thời gian qua, thể chế, cơ chế, chính sách từng bước được hoàn thiện; đội ngũ trí thức, chuyên gia, nhà khoa học ngày càng phát triển, đóng góp quan trọng vào thành tựu chung của đất nước.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà trình bày Chuyên đề 5 về “Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. Ảnh: Phạm Thắng
Tuy nhiên, công tác nhân tài vẫn còn những hạn chế cần khắc phục. Nhận thức về nhân tài chưa đầy đủ, thống nhất; phương thức quản lý còn nặng về thủ tục; cơ chế, chính sách thiếu đồng bộ; sự liên thông giữa khu vực công và khu vực tư, giữa trong nước và nước ngoài còn hạn chế. Công tác phát hiện, bồi dưỡng, bố trí và sử dụng nhân tài ở một số nơi chưa tương xứng với năng lực, đóng góp. Những bất cập này không chỉ xuất phát từ nguồn lực và điều kiện nghiên cứu, làm việc, mà còn chủ yếu từ nguyên nhân chủ quan, nhất là tư duy quản lý còn nặng tính hành chính, thiếu chủ động phát hiện, mạnh dạn giao việc, trao quyền và bảo đảm điều kiện để người tài phát huy năng lực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, nhân tài trở thành nguồn lực quan trọng quyết định năng lực cạnh tranh, khả năng làm chủ công nghệ và sức sáng tạo của mỗi quốc gia. Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2045 trở thành nước phát triển có thu nhập cao, yêu cầu đặt ra là phải xây dựng đội ngũ nhân tài đủ sức hoạch định chính sách, làm chủ công nghệ và tổ chức thực hiện các công trình, dự án lớn.
Trên tinh thần đó, Kết luận số 105-KL/TW xác định nhân tài là nguồn lực chiến lược đặc biệt của quốc gia, cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển đất nước, có trọng tâm, trọng điểm, ưu tiên các chương trình, dự án trọng điểm quốc gia. Điểm mới có ý nghĩa quan trọng là đổi mới căn bản tư duy và phương thức quản trị nhân tài, chuyển từ quản lý theo tổ chức, biên chế sang quản trị, phát triển nhân tài; lấy sản phẩm, kết quả và giá trị cống hiến làm thước đo. Theo đó, việc thu hút nhân tài không chỉ dừng ở tuyển dụng mà phải bắt đầu từ xác định nhiệm vụ, lựa chọn đúng người, giao trọng trách, trao quyền và bảo đảm nguồn lực tương xứng.

Phó Thủ tướng Phạm Thị Thanh Trà trình bày Chuyên đề 5 về “Kết luận số 105-KL/TW ngày 15/10/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về thu hút và trọng dụng nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, phục vụ đất nước phát triển nhanh, bền vững”. Ảnh: Phạm Thắng
Trao quyền thực chất, đánh giá bằng kết quả
Kết luận đặt mục tiêu xây dựng hệ thống quản trị nhân tài quốc gia hiện đại, thống nhất, hiệu quả, có sức cạnh tranh quốc tế; hình thành đội ngũ nhân tài chất lượng cao, có cơ cấu hợp lý trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn, đủ khả năng dẫn dắt và giải quyết những bài toán lớn của đất nước.
Đến năm 2030 phấn đấu thu hút, trọng dụng khoảng 1.000 nhân tài quốc gia ở cả khu vực công và khu vực tư, gắn với nhiệm vụ được giao, sản phẩm, kết quả và đóng góp cụ thể. Cùng với đó là hoàn thiện đồng bộ thể chế, cơ chế, chính sách về nhân tài; vận hành hạ tầng số quốc gia về nhân tài; hình thành hệ sinh thái nhân tài mở, liên thông, hội nhập và phấn đấu đưa Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN về Chỉ số năng lực cạnh tranh nhân tài toàn cầu.
Tầm nhìn đến năm 2045, Việt Nam chủ động bảo đảm nguồn lực nhân tài, phấn đấu thuộc nhóm 20 quốc gia dẫn đầu về chỉ số này.
Để hiện thực hóa các mục tiêu, Kết luận đề ra sáu nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm. Trước hết, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, thống nhất nhận thức và hành động của cả hệ thống chính trị về công tác nhân tài; xác định rõ trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước và người đứng đầu trong phát hiện, tiến cử, lựa chọn, trọng dụng, tạo điều kiện để nhân tài phát huy năng lực. Đồng thời, khẳng định doanh nghiệp là một chủ thể quan trọng trong phát hiện, thu hút và trọng dụng nhân tài.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Cùng với hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, Kết luận nhấn mạnh yêu cầu tập trung nguồn lực cho công tác nhân tài trong các ngành, lĩnh vực mũi nhọn. Chính sách về tiền lương, thuế, nhà ở, xuất nhập cảnh và an sinh xã hội đối với nhân tài cùng thân nhân cần được hoàn thiện theo hướng đủ sức hấp dẫn, tạo sự yên tâm để người tài tập trung cống hiến.
Đáng chú ý, việc bố trí ngân sách nhà nước cho công tác nhân tài được định hướng ở mức khoảng 0,1% GDP hằng năm trong tổng nguồn lực dành cho khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phương thức phân bổ nguồn lực cũng cần chuyển từ kiểm soát chi tiết quy trình sang đặt hàng, khoán chi, tài trợ theo sản phẩm, kết quả; đồng thời đẩy mạnh xã hội hóa, huy động nguồn lực từ doanh nghiệp và toàn xã hội.
Một yêu cầu mang tính đột phá là đổi mới phương thức phát hiện, lựa chọn, trọng dụng và đánh giá nhân tài theo nhiệm vụ, kết quả. Việc phát hiện, tiến cử phải được mở rộng từ nhiều nguồn trong và ngoài nước, không phân biệt khu vực công hay tư. Đối với khu vực công, việc thu hút nhân tài được định hướng không tính vào chỉ tiêu biên chế.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Quan trọng hơn, phải lựa chọn đúng người, đúng việc, đúng sở trường; giao nhiệm vụ xứng tầm, trao thẩm quyền thực chất và bảo đảm nguồn lực tương xứng. Việc đánh giá dựa trên chất lượng sản phẩm, giá trị tạo ra, mức độ hoàn thành nhiệm vụ và hiệu quả cống hiến; kịp thời chấm dứt giao nhiệm vụ khi nhân tài không đáp ứng yêu cầu.
Cách tiếp cận này đặt ra yêu cầu đồng thời đối với cả cơ quan sử dụng và người được trọng dụng: quyền tự chủ, nguồn lực và điều kiện làm việc phải đi liền với trách nhiệm giải trình, đạo đức liêm chính và hiệu quả thực hiện nhiệm vụ.
Phát triển nguồn nhân tài là nhiệm vụ căn bản, lâu dài
Kết luận xác định phát triển nguồn nhân tài là nhiệm vụ căn bản, lâu dài. Các chương trình tạo nguồn cần được xây dựng theo từng nhóm, ngành, lĩnh vực; chú trọng phát hiện sớm, tuyển chọn, đào tạo tài năng trẻ và hỗ trợ quá trình phát triển lâu dài.
Các cơ sở giáo dục đại học, viện nghiên cứu cần được mở rộng quyền tự chủ, gắn với trách nhiệm giải trình, chất lượng sản phẩm và liêm chính học thuật. Cơ chế “nhân tài dẫn dắt nhân tài” cũng được đặt ra nhằm phát huy vai trò của những người có năng lực nổi trội trong đào tạo, bồi dưỡng, hình thành đội ngũ kế cận.

Các đại biểu dự hội nghị. Ảnh: Phạm Thắng
Cùng với đó, xây dựng văn hóa trọng dụng người thực tài, khắc phục tình trạng đố kỵ, cô lập hoặc e ngại người giỏi; mở rộng quyền tự chủ chuyên môn, tạo điều kiện để nhân tài khởi nghiệp, chuyển giao và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Hệ sinh thái nhân tài quốc gia phải được xây dựng theo hướng hiện đại, mở và hội nhập quốc tế, bảo đảm liên kết, lưu chuyển, chia sẻ nguồn lực giữa khu vực công và khu vực tư, giữa trong nước và quốc tế. Việc thu hút người Việt Nam ở nước ngoài, chuyên gia quốc tế cần gắn với nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và thực hiện các nhiệm vụ chiến lược, qua đó nâng cao năng lực làm chủ công nghệ của đội ngũ trong nước.
Về tổ chức thực hiện, Kết luận phân công nhiệm vụ cụ thể cho các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị. Chương trình hành động của Bộ Chính trị xác định 30 nhiệm vụ, chương trình, đề án quan trọng, giao 14 cơ quan chủ trì, có thời hạn, sản phẩm và nguồn lực cụ thể; phần lớn phải hoàn thành trong quý II và quý III năm 2027.
