Quần thể bò tót lai... chờ tương lai - Kỳ 1: Thiên nhiên đã mở lối cho khoa học
Từ một hành trình khoa học, quần thể bò tót lai quý hiếm đã hình thành và được gìn giữ suốt hơn 10 năm bằng nỗ lực, tâm huyết của các nhà khoa học. Thế nhưng, sau khi đề tài nghiên cứu kết thúc, việc bảo tồn lại loay hoay đi tìm cơ chế dành cho một “tài sản sống”.
Một hiện tượng hiếm gặp ở những cánh rừng phía tây Khánh Hòa - bò tót rừng giao phối với bò nhà. Từ đó, hành trình khoa học kéo dài hơn 10 năm đã được mở ra tại Vườn quốc gia Phước Bình (xã Bác Ái Tây). Quần thể bò tót lai không chỉ là kết quả nghiên cứu về nguồn gen quý hiếm, mà còn là câu chuyện về cách con người nhận ra, nâng niu và gìn giữ một cơ hội do thiên nhiên trao tặng.
Theo dấu chân bò rừng
Những năm đầu thập niên 2010, tại thôn Bậc Rây 2 (xã Bác Ái Tây), người dân nhiều lần thấy một cá thể bò tót đực từ rừng sâu xuất hiện cạnh đàn bò nhà. Ban ngày, nó lẩn khuất ven rừng, chiều xuống lại nhập đàn kiếm ăn rồi mất hút trong màn đêm.

Tiêu bản bò tót đực hoang dã, cá thể được xác định là “cha” của quần thể bò tót lai tự nhiên tại Phước Bình.
Ban đầu, câu chuyện ấy chỉ được xem như chuyện lạ của núi rừng. Cho đến khi những con bê đầu tiên ra đời, chúng có thân hình lớn hơn bò địa phương, chân cao, cơ bắp săn chắc và sức đề kháng tốt. Người dân bắt đầu truyền tai nhau về “đàn bò lai của bò rừng”. Ông Pinăng Hùng - người dân địa phương nhớ lại: “Lúc đầu, bà con chỉ nghĩ là chuyện hiếm thôi, nhưng khi thấy bò con khỏe mạnh, lớn nhanh hơn bò thường thì mới biết có điều gì đó khác biệt”.
Từ những quan sát rất đời thường ấy, khoa học bắt đầu nhập cuộc. Các nghiên cứu di truyền sau đó xác định, đây là thế hệ lai giữa bò tót đực hoang dã (Bos gaurus) và bò cái nhà (Bos taurus). Điều đặc biệt là thế hệ bò lai tạo này không phải kết quả trong phòng thí nghiệm, mà hình thành hoàn toàn tự nhiên ở khu vực giáp ranh rừng giữa Khánh Hòa và Lâm Đồng. Phát hiện ấy nhanh chóng thu hút sự quan tâm của giới nghiên cứu bởi bò tót là loài động vật hoang dã quý hiếm, nằm trong Sách đỏ Việt Nam và thế giới.
Từ năm 2013 đến nay, 3 nhiệm vụ khoa học liên tiếp được triển khai, gồm: Nghiên cứu giám định di truyền giai đoạn 2013 - 2015; Đề tài cấp bộ về khai thác nguồn gen bò quý hiếm giai đoạn 2015 - 2020 và Đề tài cấp tỉnh về bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen bò tót lai F1 giữa bò cái nhà và bò tót đực giai đoạn 2021 - 2025. Mỗi giai đoạn nghiên cứu là một bước nối tiếp nhằm giữ lại quần thể bò tót lai đặc biệt này.
Giáo sư, Tiến sĩ DƯƠNG NGUYÊN KHANG - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu và Chuyển giao Khoa học Công nghệ (Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh): Giá trị lớn nhất của nhiệm vụ khoa học không chỉ nằm ở việc duy trì được đàn bò, mà còn hình thành mô hình bảo tồn bán hoang dã phục vụ nghiên cứu sinh học và giáo dục môi trường lâu dài.
Cuộc phục hồi quần thể quý hiếm
Ít ai biết phía sau kết quả nghiên cứu hôm nay là quãng thời gian quần thể bò tót lai từng suy giảm thể trạng nghiêm trọng. Có giai đoạn sau khi đề tài cũ kết thúc, việc chăm sóc đàn bò rơi vào khoảng trống chuyển tiếp. Điều kiện nuôi nhốt chưa phù hợp, thiếu không gian vận động, nguồn thức ăn và công tác thú y không được duy trì ổn định khiến nhiều cá thể gầy rộc, phản xạ chậm và suy giảm sức đề kháng.

Nhiều cá thể bò tót lai từng suy giảm thể trạng nghiêm trọng do thiếu nguồn lực chăm sóc trong thời gian chuyển tiếp đề tài nghiên cứu.
Thạc sĩ Nguyễn Anh Tuấn - Chủ nhiệm đề tài giai đoạn 2021 - 2025, cùng cộng sự khi tiếp nhận quần thể bò tót lai đã bắt đầu bằng một công việc rất khác với nghiên cứu phòng thí nghiệm, đó là phục hồi sức khỏe cho đàn bò. Khẩu phần ăn được điều chỉnh lại. Công tác tiêm phòng, theo dõi dịch bệnh được thực hiện định kỳ. Không gian vận động được mở rộng để đàn bò duy trì tập tính bán hoang dã.
Tại vườn thực vật Phước Bình, một khu chăn thả rộng khoảng 4ha được hình thành. Nguồn nước dẫn từ tự nhiên, địa hình gần như giữ nguyên trạng rừng khô đặc trưng nhằm tạo môi trường thích nghi tốt hơn cho quần thể bò tót lai. Một cán bộ kỹ thuật từng trực tiếp chăm sóc đàn bò cho biết, có thời điểm nhóm nghiên cứu gần như túc trực thường xuyên vì chỉ cần một cá thể bỏ ăn vài ngày là thể trạng xuống rất nhanh.
Sau nhiều năm phục hồi và theo dõi, quần thể bò tót lai dần ổn định trở lại. Kết quả nghiệm thu cho thấy phần lớn cá thể thế hệ F1 thích nghi tốt với môi trường sống mới; cá thể thế hệ F2 tiếp tục phát triển ổn định. Không chỉ duy trì được quần thể, nhóm nghiên cứu còn xây dựng được bộ dữ liệu về sinh trưởng, sinh sản và khả năng thích nghi của bò tót lai, điều rất ít nghiên cứu trong nước từng thực hiện được ở quy mô thực địa.
Giá trị vượt khỏi một đề tài
Điều các nhà khoa học nhìn thấy ở đàn bò tót lai không chỉ là vài cá thể đang được nuôi giữ trong khu bán hoang dã. Đó còn là dữ liệu sinh học tích lũy suốt hơn 10 năm về sinh trưởng, sinh sản, khả năng thích nghi và bảo tồn nguồn gen; một chuỗi theo dõi nếu bị đứt gãy sẽ rất khó tái tạo. Tiến sĩ Đoàn Đức Vũ - Phó Giám đốc Phân viện Chăn nuôi và Thú y Nam Bộ nhận định, các đề tài đã góp phần bảo tồn tại chỗ nguồn gen động vật quý hiếm; đồng thời tạo dựng mô hình quản lý phục vụ nghiên cứu, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái. Chính vì vậy, nhiều năm qua, khu bảo tồn bò tót lai đã trở thành điểm tham quan, học tập của hàng nghìn lượt học sinh, sinh viên và khách du lịch khi đến Vườn quốc gia Phước Bình. Giữa những cánh rừng khô đặc trưng Nam Trung Bộ, quần thể bò tót lai giống như một “lớp học sống” về thiên nhiên và bảo tồn.
Trong báo cáo tổng kết, nhóm thực hiện đề tài nhấn mạnh kết quả nghiên cứu có thể trở thành tiền đề cho việc quy hoạch bảo tồn và phát triển nguồn gen bò tót quý hiếm, đồng thời mở hướng chuyển giao cho các đơn vị tiếp tục nghiên cứu lâu dài. Thế nhưng, cuối năm 2025, khi quần thể bò tót lai bắt đầu ổn định trở lại thì đề tài lại kết thúc. Đàn bò tót lai đứng trước một khoảng trống mới - khoảng trống về cơ chế duy trì sau nghiên cứu.
Một hành trình khoa học có thể khép lại bằng hồ sơ nghiệm thu và biên bản bàn giao. Nhưng với quần thể bò tót lai, sự sống không dừng lại theo tiến độ của một đề tài. Vậy ai hoặc tổ chức nào sẽ tiếp tục giữ gìn thành quả khoa học này?
Trong báo cáo phản biện khoa học, Tiến sĩ ĐẶNG VIỆT HÙNG - Phó Trưởng khoa, Trưởng bộ môn Động thực vật (Trường Đại học Lâm nghiệp Phân hiệu Đồng Nai) cũng cho rằng, đề tài có ý nghĩa thực tiễn rõ rệt đối với bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững tại địa phương.











