'Quảng Nam thất trạm' trên con đường thiên lý
VHXQ - Dặm dài lịch sử, cha ông đã mở con đường thiên lý Bắc - Nam. Đường thư này gợi nhớ đến con đường 'mở cõi' về phương Nam với khao khát khai phá vùng đất mới. Trong đó, hệ thống trạm dịch 'Quảng Nam thất trạm' là một minh chứng sống động về sự phát triển của hệ thống giao thông và thông tin liên lạc xưa.

Một góc trung tâm phường Điện Bàn Đông . Ảnh: HOÀNG ĐẠO
Từ vị trí chiến lược của xứ Quảng
Xứ Quảng - vùng đất “Tả trực kỳ” nằm sát kinh đô Huế, có Cửa Hàn là cảng biển lớn, vị trí chiến lược hết sức quan trọng khi vừa là tiền phương, vừa là lá chắn bảo vệ kinh thành.
Chính vì thế, Quảng Nam xưa kéo dài từ Hải Vân Quan đến núi Phong (Quảng Ngãi) với khoảng 170 dặm (đơn vị đo chiều dài đường sá thời Nguyễn, tương đương 100km) và được thiết lập đến 7 trạm dịch. Các trạm dịch chuyên lo công văn, thư từ từ kinh thành về các tỉnh phía nam và ngược lại. Theo đó, từ 25 đến 30 dặm (khoảng 15-20km) thì đặt một nhà trạm để canh phòng và vận chuyển văn thư. Đây cũng là nơi dừng nghỉ của quan lại khi đi kinh lý.
Do vị trí đặc biệt quan trọng nên các nhà trạm thuộc địa phận Quảng Nam xưa đều được xây bằng gạch hoặc đá đắp đất, mái lợp ngói âm dương.
Trạm dựng sát bên đường, có 4 đến 5 ngựa tốt và khoảng 50 lính trạm. Trạm là nhà hai gian ba chái, có giếng nước bằng đá, chuồng ngựa. Ngoài cùng có hào, trên có vọng lâu, cổng mở ra đường cái quan. Trên cửa ra vào có treo biển lớn sơn son thếp vàng viết chữ tên trạm.
Ở sân nhà trạm trồng cột treo cờ vàng hình vuông. Trong trạm luôn sẵn có ống tre đựng công văn, cờ sắc, bùi nhùi và con cúi để khi có lệnh Thừa trạm là phu trạm tức tốc lên đường.
Gặp tin hỏa tốc về thiên tai, địch họa, cứu binh thì phu trạm lưng giắt cờ đỏ, ngựa phi nước đại, còn bình thường thì thay bằng màu xanh.
Các phu trạm được miễn đi lính, miễn thuế thân và tạp dịch. Khi đưa thư thì được ưu tiên sang đò, ngựa giẫm phải người trên đường chạy hỏa tốc thì không bị bắt tội. Đứng đầu mỗi trạm là Thừa trạm, giúp việc là cai đội coi việc an ninh và các phu trạm chạy thư tín.
Hành trình qua “Quảng Nam thất trạm”
Năm 1809, vua Gia Long bắt đầu cho xây dựng con đường thiên lý và đặt dịch trạm. Ở Quảng Nam, có bảy trạm tính từ Bắc vào Nam, tên trạm lấy tên làng, xã nơi đặt trạm: Chân Sảng, Câu Đê, Miêu Bông, Long Phước, Ngọc Phô, Tam Kỳ và Vân Trai.

Đường vượt quốc lộ 1 tại Chu Lai. Ảnh: QUỐC TUẤN
Đến năm 1831, sau khi cải cách hành chính đặt lại 31 tỉnh thành, vua Minh Mạng đổi tên các trạm ở Quảng Nam, bắt đầu bằng chữ “Nam” gồm: Nam Chân - dưới núi Chân Sảng, nơi nhà Nguyễn xây đồn Chân Sảng ở vị trí “tiền tiêu” vùng Hải Vân quan; Nam Ô - gần cửa sông Cu Đê, thuộc làng Hóa Ổ (nay thuộc phường Liên Chiểu); Nam Giản - thuộc làng Miếu Bông (nay thuộc xã Hòa Vang); Nam Phước (nay thuộc xã Duy Xuyên); Nam Ngọc (nay thuộc xã Thăng Bình); Nam Kỳ (nay thuộc phường Tam Kỳ) và Nam Vân (nay thuộc vùng Chu Lai - Kỳ Hà, xã Núi Thành giáp với tỉnh Quảng Ngãi).
Theo “Quảng Nam toàn đồ” được vẽ dưới triều Tự Đức, con đường thiên lý đi qua Quảng Nam bắt đầu từ Hải Vân Quan, theo hình cánh cung hướng Tây Nam đến trạm Nam Chân (dưới núi Chân Sảng, về sau lập đồn Chân Sảng) rồi từ đó xuống đèo thẳng đến trạm Nam Ổ (gần cửa sông Cu Đê, làng Hóa Ổ, Hòa Hiệp).
Từ đây tiến thẳng về phía đông đến huyện lỵ Hòa Vang tại Chợ Mới, Hòa Thuận, rồi men theo dãy núi đất Cẩm Lệ, vượt sông Cẩm Lệ đến trạm Nam Giản (Miếu Bông - Hòa Phước). Từ Nam Giản thẳng vào tỉnh thành La Qua (Điện Bàn), vượt sông Thu Bồn qua các trạm Nam Phước (Duy Xuyên), Nam Ngọc (Hà Lam - Thăng Bình) rồi qua sông Kế Xuyên đến trạm Nam Kỳ (thuộc Tam Kỳ ngày nay) và cuối cùng là trạm Nam Vân giáp tỉnh Quảng Ngãi, tổng cộng vượt gần 22 sông và nhánh sông.
Tàn tích mai một và dấu ấn lịch sử
Hệ thống trạm dịch không chỉ phục vụ mục đích hành chính, quân sự mà còn góp phần thúc đẩy giao thương kinh tế, bảo vệ an ninh và xác lập chủ quyền trên toàn tuyến đường thiên lý.

Cầu Đỏ, cây cầu nằm trên trục quốc lộ 1A với tầm quan trọng trong hành lang giao thông giao thương của quốc gia. Ảnh: Q.T
Ở xứ Quảng, dấu tích của những nhà trạm gần như bị xóa hết. Các địa danh liên quan đến trạm dịch thường chỉ còn lưu lại trong ký ức người dân và các tư liệu lịch sử, bản đồ cổ. Theo thời gian và những biến động lịch sử, “Quảng Nam thất trạm” dần mai một.
Kể từ năm 1886 khi Pháp lắp đặt đường “dây thép” để kết nối thông tin liên lạc từ Huế vào Nam thì vai trò của trạm dần bị mất đi. Đến khoảng đầu thế kỷ 20, dưới thời Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer thì xây dựng thêm hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt. Đường bộ đi đến các trạm được thảm nhựa.
Năm 1911, Albert Sarraut ký quyết định xây dựng mạng lưới đường bộ toàn Đông Dương, con đường thiên lý được đo đạc khảo sát thiết kế lại và định vị trên bản đồ lấy tên là Đường thuộc địa số 1 (Route Coloniale N01). “Đường thuộc địa số 1” đoạn đi qua Quảng Nam - Đà Nẵng, người Pháp chủ yếu dựa vào con đường thiên lý trước đây, mà người dân xứ Quảng quen gọi là “Đường thiên lý số 1”.
Chặng đường thiên lý Quảng Nam dài khoảng 170 dặm, đi qua bảy trạm. Nhìn trên tổng thể, phần lớn được thiết lập trên vùng đồng bằng, ở những nơi có địa hình thuận lợi và gần đường biển, nên dù có quanh co uốn khúc nhưng vẫn là con đường thuận tiện và nhanh nhất.
Từ những con đường xưa, nhìn về mạng lưới giao thông đường bộ của thành phố Đà Nẵng mới sau sáp nhập hiện nay, có thể thấy nhiều điểm tương đồng về địa hình và giá trị kinh tế - xã hội. Quốc lộ 1A được xây dựng trên cơ sở con đường thiên lý xưa, cũng gần như song song và cận biển, cũng có những đoạn uốn cong để tránh núi hiểm trở hay dòng chảy cắt ngang của các con sông. Đó cũng là sự tiếp biến văn hóa mà lịch sử Quảng Nam để lại.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/quang-nam-that-tram-tren-con-duong-thien-ly-3324273.html












