Quảng Ngãi phát triển đa giá trị, khai thác hiệu quả tiềm năng kinh tế rừng

Quảng Ngãi đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tập trung trồng rừng, chuyển từ kinh doanh gỗ nguyên liệu sang rừng trồng gỗ lớn, bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng đề ra.

Người dân xã Đăk Sao, tỉnh Quảng Ngãi, tham gia quản lý, bảo vệ rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh minh họa: Dư Toán/TTXVN)

Người dân xã Đăk Sao, tỉnh Quảng Ngãi, tham gia quản lý, bảo vệ rừng gắn với chính sách chi trả dịch vụ môi trường rừng. (Ảnh minh họa: Dư Toán/TTXVN)

Quảng Ngãi đặt mục tiêu nâng cao đóng góp của ngành lâm nghiệp vào tăng trưởng kinh tế, hướng đến phát triển theo chiều sâu, gia tăng giá trị từ tài nguyên rừng.

Tỉnh chú trọng phát huy giá trị đa dụng của rừng, gắn bảo vệ và phát triển rừng với chế biến sâu, dược liệu, dịch vụ môi trường và kinh tế xanh.

Theo Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 20/7/2026 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi khóa I, nhiệm kỳ 2025-2030 về phát triển lâm nghiệp bền vững đến năm 2030, định hướng đến năm 2035, tỉnh hướng đến xây dựng ngành lâm nghiệp hiện đại, có sức cạnh tranh, tạo ra các sản phẩm và dịch vụ đa dạng, giá trị gia tăng cao.

Đến năm 2030, tỉnh phấn đấu duy trì tỷ lệ che phủ rừng 60%, thúc đẩy phát triển lâm sản ngoài gỗ, chế biến gỗ và các mô hình kinh tế gắn với rừng.

Sau hợp nhất nhập, Quảng Ngãi có diện tích rừng và đất lâm nghiệp hơn 1,4 triệu ha, tạo điều kiện phát triển lâm nghiệp theo hướng đa giá trị. Toàn tỉnh hiện có hơn 825.851 ha rừng, trong đó rừng tự nhiên hơn 603.990 ha, rừng trồng hơn 221.854 ha; tỷ lệ che phủ rừng đạt hơn 59%. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng, vừa bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học, vừa tạo nền tảng phát triển kinh tế và sinh kế cho người dân.

Giai đoạn 2020-2025, tỉnh trồng hơn 160.900 ha rừng tập trung, trồng phân tán khoảng 37 triệu cây; khoanh nuôi tái sinh tự nhiên khoảng 6.589 ha, chăm sóc và làm giàu rừng khoảng 420 ha. Sản lượng gỗ khai thác đạt 15,7 triệu m³. Diện tích trồng Sâm Ngọc Linh đạt 3.228 ha, tổng vốn đầu tư vào lĩnh vực lâm nghiệp hơn 14.680 tỷ đồng.

Người dân Trà Bồng (Quảng Ngãi) kiểm tra sinh trưởng của vườn quế. (Ảnh: Đinh Hương/TTXVN)

Người dân Trà Bồng (Quảng Ngãi) kiểm tra sinh trưởng của vườn quế. (Ảnh: Đinh Hương/TTXVN)

Tuy nhiên, ngành lâm nghiệp vẫn chủ yếu dựa vào mở rộng diện tích và sản lượng, trong khi giá trị thu được trên mỗi đơn vị diện tích còn nhiều dư địa nâng cao.

Đối với rừng trồng, tỉnh cần chuyển dần từ sản xuất gỗ nguyên liệu phục vụ dăm, viên nén sang phát triển rừng gỗ lớn, nguyên liệu chất lượng cao, chế biến ván, đồ gỗ và các sản phẩm có giá trị gia tăng. Cùng đó, nâng cao chất lượng giống, áp dụng tiến bộ kỹ thuật trong lâm sinh góp phần tăng năng suất, chất lượng gỗ và đáp ứng yêu cầu thị trường.

Đối với rừng tự nhiên, phần lớn có chức năng phòng hộ, cần ưu tiên bảo vệ và phục hồi. Giá trị của rừng không chỉ ở gỗ mà còn ở khả năng cung cấp dịch vụ môi trường, hấp thụ carbon, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái.

Quảng Ngãi cũng có lợi thế phát triển lâm sản ngoài gỗ, dược liệu dưới tán rừng với hơn 850 loài cây dược liệu được ghi nhận, cùng các sản phẩm đặc trưng như Sâm Ngọc Linh, quế Trà Bồng...

Việc hình thành vùng nguyên liệu gắn với chế biến, tiêu thụ cần bảo đảm yêu cầu sinh thái, không ảnh hưởng đến chức năng và tính bền vững của hệ sinh thái rừng.

Nghị quyết số 13-NQ/TU của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi khóa I, nhiệm kỳ 2025 - 2030 xác định việc chú trọng hoàn thiện cơ chế, chính sách, gắn bảo vệ và phát triển rừng với tạo sinh kế, nâng cao thu nhập cho người dân và cộng đồng. Tỉnh chú trọng xã hội hóa lâm nghiệp, phát triển lâm nghiệp cộng đồng, tín chỉ carbon rừng, bảo hiểm rừng trồng; thực hiện hiệu quả Hiệp định VPA/FLEGT Việt Nam-EU và Quy định chống phá rừng của EU (EUDR); đồng thời hoàn thiện chính sách về đất đai, trồng rừng, vốn và thực hiện nghiêm Luật Lâm nghiệp.

Cùng đó, tỉnh thu hút đầu tư vào trồng rừng, chế biến gỗ, dược liệu dưới tán rừng, du lịch sinh thái và nông-lâm kết hợp; phát triển kinh tế tập thể, kinh tế hộ gia đình, thúc đẩy liên kết “6 nhà” (Nhà nước, Nông dân, Nhà khoa học, Doanh nghiệp, Ngân hàng và Nhà phân phối).

Tỉnh cũng đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; tập trung trồng rừng, khoanh nuôi phục hồi rừng suy giảm, chuyển từ kinh doanh gỗ nguyên liệu sang rừng trồng gỗ lớn, bảo đảm tỷ lệ che phủ rừng đề ra.

Hạt Kiểm lâm khu vực X kiểm tra khu vực 6ha rừng cây keo, bạch đàn tại thôn Vạn Trung, xã Nguyễn Nghiêm. (Ảnh minh họa: Phạm Cường/TTXVN)

Hạt Kiểm lâm khu vực X kiểm tra khu vực 6ha rừng cây keo, bạch đàn tại thôn Vạn Trung, xã Nguyễn Nghiêm. (Ảnh minh họa: Phạm Cường/TTXVN)

Tiến sỹ Trần Lâm Đồng - Phó Giám đốc Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, cho rằng không gian phát triển mới, kết nối vùng phía Đông với phía Tây, cùng lợi thế Khu kinh tế Dung Quất, cảng biển nước sâu và cửa khẩu quốc tế Bờ Y tạo điều kiện mở rộng thị trường, thu hút đầu tư chế biến lâm sản, logistics.

Do đó, tỉnh cần nâng cao chất lượng quản lý, bảo vệ và phát triển rừng; đẩy mạnh phục hồi rừng tự nhiên, nâng cao chất lượng rừng trồng, ứng dụng giống tiến bộ và kỹ thuật lâm sinh tiên tiến. Việc áp dụng đồng bộ các giải pháp này có thể giúp tăng năng suất rừng từ 20-30%, cải thiện chất lượng sản phẩm.

Ngoài ra, tỉnh cũng cần thúc đẩy chuỗi liên kết giữa chủ rừng, người trồng rừng, doanh nghiệp chế biến và thị trường tiêu thụ; phát triển công nghiệp chế biến gỗ hiện đại, nâng tỷ lệ chế biến sâu.

Các chính sách hỗ trợ phải hướng đến nâng cao thu nhập, bảo đảm lợi ích hài hòa giữa người dân, cộng đồng và doanh nghiệp, tạo động lực để người dân gắn bó với rừng-Tiến sỹ Trần Lâm Đồng phân tích.

Một hướng đi quan trọng là phát triển kinh tế carbon, dịch vụ môi trường rừng, du lịch sinh thái và nông-lâm kết hợp. Ông Đồng đề xuất, tỉnh nên nghiên cứu phương án huy động doanh nghiệp, nhất là các đơn vị có nhu cầu giảm phát thải, tham gia đầu tư bảo vệ, phát triển rừng và hình thành cơ chế thị trường tín chỉ carbon phù hợp.

Theo ông Nguyễn Văn Nam, Chi cục trưởng Chi cục Kiểm lâm tỉnh Quảng Ngãi, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số là giải pháp quan trọng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, bảo vệ rừng; trong đó, cần xây dựng hệ thống dữ liệu lâm nghiệp thống nhất, có khả năng kết nối giữa các cơ quan quản lý, địa phương và chủ rừng; tăng cường ứng dụng công nghệ hiện đại trong theo dõi diễn biến tài nguyên rừng.

Cụ thể, ngành Lâm nghiệp sẽ sử dụng ảnh vệ tinh, công nghệ viễn thám, thiết bị bay không người lái, hệ thống thông tin địa lý và trí tuệ nhân tạo để giám sát biến động rừng, phát hiện sớm các nguy cơ cháy rừng, phá rừng và suy thoái hệ sinh thái; ứng dụng công nghệ số trong quản lý giống, theo dõi sinh trưởng rừng trồng, lập hồ sơ từng lô rừng, truy xuất nguồn gốc gỗ và kiểm soát chuỗi cung ứng lâm sản.

Ông Nam cho biết thêm, việc từng bước hình thành hệ thống quản lý rừng thông minh sẽ góp phần giảm chi phí giám sát, nâng cao độ chính xác trong quản lý tài nguyên rừng và hỗ trợ cơ quan chức năng đưa ra các quyết định kịp thời, hiệu quả.

Việc kết hợp bảo vệ rừng với phát triển kinh tế đa giá trị, nâng cao năng lực quản lý và ứng dụng công nghệ sẽ tạo nền tảng để Quảng Ngãi khai thác hiệu quả tiềm năng tài nguyên rừng, nâng cao thu nhập cho người dân, đồng thời hướng đến xây dựng ngành lâm nghiệp hiện đại, bền vững, đáp ứng mục tiêu đề ra đến năm 2030 và định hướng đến năm 2035./.

(TTXVN/Vietnam+)

Nguồn VietnamPlus: https://www.vietnamplus.vn/quang-ngai-phat-trien-da-gia-tri-khai-thac-hieu-qua-tiem-nang-kinh-te-rung-post1146051.vnp