Quảng Ngãi trước cơ hội hình thành cực tăng trưởng quan trọng của miền Trung - Tây Nguyên

Quảng Ngãi biến lợi thế thành động lực tăng trưởng


Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Quảng Ngãi lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030, xác định mục tiêu đến năm 2030 xây dựng Quảng Ngãi trở thành tỉnh phát triển khá, là một cực tăng trưởng quan trọng của khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Đây là mục tiêu lớn, đòi hỏi sự quyết tâm cao, tư duy phát triển mới và những giải pháp đồng bộ, có tính đột phá.

Trong giai đoạn 2026-2030, tỉnh đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quân từ 10%/năm trở lên; năng suất lao động tăng bình quân 8,5-9,5%/năm; GRDP bình quân đầu người đạt khoảng 6.900-7.000 USD; tổng vốn đầu tư toàn xã hội trong 5 năm ít nhất 560.000 tỷ đồng. Những chỉ tiêu này cho thấy yêu cầu phát triển của Quảng Ngãi không chỉ dừng lại ở mở rộng quy mô, mà phải tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng, năng suất và sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Cơ hội lớn nhất hiện nay là không gian phát triển của tỉnh được mở rộng, hình thành sự liên kết giữa miền núi, cao nguyên, đồng bằng, ven biển và biển đảo. Đây là cấu trúc không gian đa dạng, có thể tạo điều kiện để Quảng Ngãi phát triển nền kinh tế đa ngành, đa lĩnh vực, đồng thời tăng cường liên kết vùng.

Ở phía Đông, tỉnh có Khu kinh tế Dung Quất, cảng nước sâu Dung Quất, các trung tâm công nghiệp, lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí và năng lượng. Đây là nền tảng quan trọng để Quảng Ngãi tiếp tục phát triển công nghiệp quy mô lớn, công nghiệp hỗ trợ và các ngành có giá trị gia tăng cao. Dung Quất cũng có điều kiện để phát triển thành Trung tâm lọc hóa dầu và năng lượng quốc gia, gắn với hệ thống cảng biển, logistics và chuỗi cung ứng khu vực.
Ở phía Tây, không gian Kon Tum trước đây mở ra lợi thế về cao nguyên, rừng, dược liệu, nông nghiệp đặc hữu, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng và kinh tế cửa khẩu. Những địa danh như Ngọc Linh, Măng Đen, Bờ Y… không chỉ có giá trị về tài nguyên mà còn có thể trở thành những mắt xích quan trọng trong chuỗi liên kết phát triển giữa Quảng Ngãi với Tây Nguyên và các nước trên hành lang kinh tế Đông - Tây.
Cùng với đó, Quảng Ngãi có hệ thống biển đảo, trong đó Lý Sơn là điểm đến có thương hiệu, Sa Huỳnh có giá trị về cảnh quan, văn hóa và du lịch nghỉ dưỡng. Nếu được kết nối hợp lý với Măng Đen và các vùng du lịch sinh thái, dược liệu, văn hóa ở phía tây, tỉnh có thể hình thành chuỗi sản phẩm du lịch đa dạng, kéo dài thời gian lưu trú và tăng mức chi tiêu của du khách.

Tuy nhiên, cơ hội chỉ trở thành động lực tăng trưởng khi được chuyển hóa thành các dự án, công trình, sản phẩm và chuỗi giá trị cụ thể. Thách thức lớn nhất là làm sao khắc phục tình trạng tiềm năng nhiều nhưng năng lực khai thác, chế biến sâu, liên kết sản xuất và sức cạnh tranh còn hạn chế.
Một thách thức khác là yêu cầu tăng trưởng phải đi đôi với bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo đảm an sinh xã hội. Quảng Ngãi có thế mạnh về công nghiệp nặng, năng lượng, cảng biển, nhưng đây cũng là những lĩnh vực đòi hỏi kiểm soát chặt chẽ về môi trường, công nghệ và hạ tầng xử lý chất thải.

Cảng tổng hợp Hòa phát Dung Quất.
Bên cạnh đó, tỉnh cần nguồn lực rất lớn để đầu tư hạ tầng giao thông, đô thị, logistics, hạ tầng số, cấp nước, thoát nước và xử lý chất thải. Trong khi đó, nguồn lực ngân sách có hạn, nên phải có cách tiếp cận mới trong huy động vốn, lựa chọn dự án và tổ chức thực hiện.
Thách thức cuối cùng là năng lực quản trị và thực thi. Mục tiêu lớn chỉ có thể thành công nếu bộ máy chính quyền thực sự chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang kiến tạo phát triển; đẩy nhanh cải cách hành chính, phân cấp, phân quyền, tháo gỡ điểm nghẽn về đất đai, quy hoạch, giải phóng mặt bằng và thủ tục đầu tư; đồng thời đồng hành thực chất với doanh nghiệp và người dân.



Trong giai đoạn tới, Quảng Ngãi xác định công nghiệp tiếp tục là động lực quan trọngcủa nền kinh tế, nhưng phải phát triển theo chiều sâu, hiện đại, đa dạng hóa và nâng cao giá trị gia tăng. Tỉnh không chỉ dựa vào một số ngành công nghiệp truyền thống mà cần từng bước mở rộng sang các lĩnh vực mới, có hàm lượng công nghệ và khả năng tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng.

Khu liên hợp sản xuất gang thép Hòa Phát Dung Quất.
Các ngành lọc hóa dầu, luyện kim, cơ khí chế tạo, đóng tàu, công nghiệp hỗ trợ tiếp tục được quan tâm, đồng thời khuyến khích phát triển điện tử, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, năng lượng mới và các ngành công nghiệp xanh. Đây là hướng đi nhằm giảm sự phụ thuộc vào một số ngành, sản phẩm truyền thống, đồng thời tạo dư địa tăng trưởng mới.
Một số dự án lớn đang và sẽ tạo tác động lan tỏa đối với kinh tế tỉnh như dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy lọc dầu Dung Quất; các dự án của Hòa Phát tại Khu kinh tế Dung Quất, trong đó có Hòa Phát Dung Quất 2; dự án sản xuất ray thép, thép đặc biệt; Khu công nghiệp VSIP II; các dự án điện tuabin khí Dung Quất I, II, III. Tỉnh sẽ phối hợp với các nhà đầu tư, bộ, ngành Trung ương để tháo gỡ khó khăn, đẩy nhanh tiến độ các dự án, nhưng đồng thời phải kiểm soát chặt chẽ yêu cầu về công nghệ, môi trường và hiệu quả sử dụng đất.

Đối với lĩnh vực năng lượng, Quảng Ngãi định hướng phát triển theo hướng đa dạng hóa nguồn cung, bảo đảm an ninh năng lượng, đồng thời từng bước chuyển đổi sang các mô hình năng lượng sạch, năng lượng tái tạo và công nghệ phát thải thấp. Việc phát triển năng lượng phải gắn với nhu cầu của các khu công nghiệp, đô thị, dịch vụ và các trung tâm sản xuất mới.
Về hạ tầng giao thông, tỉnh xác định cần hình thành mạng lưới kết nối đồng bộ giữa biển, đồng bằng, cao nguyên và khu vực cửa khẩu. Trong đó, tuyến cao tốc Quảng Ngãi - Kon Tum có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, không chỉ kết nối Quảng Ngãi với Kon Tum và Tây Nguyên, mà còn mở ra khả năng kết nối Khu kinh tế Dung Quất, cảng biển miền Trung với khu vực Bờ Y và hành lang kinh tế Đông - Tây.

Cửa khẩu Quốc tế Bờ Y (xã Bờ Y, tỉnh Quảng Ngãi).
Nếu được đầu tư đồng bộ, hành lang “Bờ Y - Quảng Ngãi - Dung Quất - biển Đông” sẽ tạo điều kiện vận chuyển hàng hóa từ Tây Nguyên, Nam Lào và Đông Bắc Campuchia ra cảng biển, đồng thời đưa hàng hóa, nguyên liệu, thiết bị từ biển vào khu vực nội địa. Đây là cơ sở để phát triển logistics, dịch vụ cảng, kho bãi, vận tải đa phương thức và các ngành công nghiệp phụ trợ.
Bên cạnh cao tốc, tỉnh cũng quan tâm các tuyến đường ven biển, trong đó có trục Dung Quất - Sa Huỳnh; kết nối các khu công nghiệp, đô thị, cảng biển, khu du lịch và các địa bàn động lực. Hạ tầng giao thông phải được nhìn nhận không chỉ là công trình đi lại, mà còn là công cụ tổ chức lại không gian kinh tế, mở rộng thị trường và giảm chi phí logistics.
Đối với đô thị và du lịch, Quảng Ngãi định hướng phát triển các cực Quảng Ngãi, Dung Quất, Măng Đen và Lý Sơn, đồng thời hình thành chuỗi liên kết Ngọc Linh - Măng Đen - Dung Quất - Lý Sơn. Các dự án hạ tầng du lịch, đô thị, cảng biển, sân bay và dịch vụ phải được đặt trong tổng thể liên kết, tránh đầu tư manh mún, thiếu kết nối.

Tỉnh cũng sẽ nghiên cứu, thúc đẩy các điều kiện cần thiết để phát triển Cảng hàng không Măng Đen theo định hướng được cấp có thẩm quyền xem xét, nhằm tăng khả năng kết nối vùng cao nguyên với các trung tâm kinh tế, du lịch trong nước và quốc tế.
Một nhiệm vụ quan trọng khác là phát triển hạ tầng số, hệ thống cấp nước, thoát nước, xử lý nước thải, chất thải rắn và hạ tầng phục vụ các khu công nghiệp, đô thị. Đây là những hạ tầng ít tạo ra sự chú ý trước mắt nhưng có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng phát triển lâu dài.
Về thu hút đầu tư, tỉnh sẽ chuyển mạnh từ tư duy thu hút càng nhiều dự án càng tốt sang lựa chọn những dự án có chất lượng, tạo giá trị gia tăng, đóng góp ngân sách, tạo việc làm, chuyển giao công nghệ và có khả năng dẫn dắt các doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi sản xuất.

Doanh nghiệp phải được xác định là trung tâm, là chủ thể của quá trình phát triển. Chính quyền có trách nhiệm tạo lập môi trường đầu tư minh bạch, ổn định, thông thoáng; hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận đất đai, hạ tầng, nguồn nhân lực, vốn và thị trường; đồng thời giải quyết nhanh các khó khăn phát sinh trong quá trình triển khai dự án.
Cùng với đó, tỉnh xác định khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và đào tạo nguồn nhân lực là nền tảng để nâng cao năng suất lao động. Nếu không nâng cao chất lượng nhân lực và năng lực công nghệ, Quảng Ngãi khó có thể duy trì tốc độ tăng trưởng cao một cách bền vững.


Đây là vấn đề có ý nghĩa quyết định. Bởi một cực tăng trưởng không được xác lập chỉ bằng quy mô hay số lượng dự án, mà phải được chứng minh bằng tốc độ tăng trưởng, năng suất, quy mô đầu tư, năng lực sản xuất, mức độ liên kết vùng và sự cải thiện thực chất đời sống người dân.

Quảng Ngãi đặt mục tiêu tăng trưởng GRDP bình quântừ 10%/năm trở lên trong giai đoạn 2026-2030; năng suất lao động tăng 8,5-9,5%/năm; khu vực công nghiệp - xây dựng và dịch vụ chiếm khoảng 75-76% GRDP; riêng công nghiệp - xây dựng chiếm khoảng 44-45%; kinh tế số đóng góp ít nhất 30% GRDP; tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt ít nhất 560.000 tỷ đồng.
Để đạt được những mục tiêu này, tỉnh sẽ đổi mới phương thức quản trị phát triển, quản trị theo các động lực tăng trưởng, ngành, lĩnh vực, dự án và địa bàn cụ thể. Mỗi mục tiêu phải được lượng hóa thành nhiệm vụ, tiến độ, trách nhiệm và kết quả đầu ra. Không thể chỉ dừng ở việc ban hành chủ trương hay phê duyệt dự án, mà phải theo dõi đến khi dự án có vốn, có mặt bằng, có sản phẩm, doanh thu, việc làm và đóng góp ngân sách.
Tỉnh xác định công nghiệp - xây dựng phải tăng trưởng khoảng 12-13%/năm; khu vực dịch vụ tăng 11-12%, đưa tỷ trọng dịch vụ lên khoảng 31-32%; nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng khoảng 5-6%. Đối với nông nghiệp, định hướng không phải là mở rộng sản lượng bằng mọi giá mà tập trung nâng cao chất lượng, giá trị và khả năng chế biến.

Khu vực phía tây có tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn, dược liệu và các sản phẩm đặc hữu, trong đó có Sâm Ngọc Linh. Tuy nhiên, cần tổ chức lại sản xuất, xây dựng vùng nguyên liệu, kiểm soát chất lượng, phát triển chế biến sâu, thương hiệu và thị trường. Lâm nghiệp cũng phải chuyển dần từ khai thác giá trị thấp sang quản lý rừng bền vững, phát triển kinh tế dưới tán rừng và các sản phẩm có chứng nhận.
Về đầu tư, tỉnh sẽ phát huy vai trò dẫn dắt của đầu tư công, đồng thời huy động mạnh mẽ nguồn lực xã hội, thúc đẩy hợp tác công - tư và các hình thức đầu tư phù hợp. Đầu tư công phải tập trung cho những công trình có tính kết nối, lan tỏa, tạo động lực cho các khu vực kinh tế khác, không dàn trải, không đầu tư theo phong trào.
Cải cách hành chính được xác định là một giải pháp trực tiếp để thúc đẩy tăng trưởng. Tỉnh sẽ tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền gắn với kiểm tra, giám sát; số hóa quy trình xử lý hồ sơ; công khai, minh bạch tiến độ giải quyết thủ tục; giảm thời gian và chi phí cho doanh nghiệp. Tinh thần là không để doanh nghiệp phải đi nhiều nơi, làm nhiều lần hoặc chờ đợi kéo dài vì những vướng mắc thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý.

Người dân làm thủ tục hành chính, tại Trung tâm phục vụ Hành chính công.
Trong quá trình phát triển, Quảng Ngãi nhất quán quan điểm không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng. Các dự án công nghiệp, năng lượng, đô thị và du lịch phải tuân thủ đầy đủ quy định về đánh giá tác động môi trường, xử lý nước thải, chất thải, sử dụng tài nguyên và bảo đảm an toàn cho cộng đồng. Những dự án sử dụng công nghệ lạc hậu, nguy cơ ô nhiễm cao, hiệu quả thấp sẽ không được ưu tiên.
Tỉnh cũng chú trọng liên kết phát triển giữa Dung Quất với Bờ Y, Chu Lai, Tây Nguyên và các địa phương trong khu vực. Liên kết phải được thể hiện bằng các tuyến giao thông, chuỗi cung ứng, dịch vụ logistics, vùng nguyên liệu, thị trường lao động và hệ thống doanh nghiệp hỗ trợ, chứ không chỉ dừng ở các chương trình phối hợp.

Thước đo cuối cùng của quá trình phát triển là năng suất lao động, số lượng và chất lượng doanh nghiệp, năng lực công nghệ, hạ tầng, môi trường sống, thu nhập và cơ hội việc làm của người dân. Nếu các dự án lớn được triển khai nhưng không tạo ra giá trị gia tăng, không thúc đẩy doanh nghiệp địa phương, không nâng cao thu nhập và chất lượng sống thì chưa thể xem đó là thành công.
Vì vậy, Quảng Ngãi sẽ tập trung xây dựng chính quyền kiến tạo, hành động, đồng hành cùng doanh nghiệp và người dân; lấy hiệu quả thực chất làm tiêu chí đánh giá. Mục tiêu trở thành cực tăng trưởng miền Trung - Tây Nguyên chỉ có thể đạt được khi các lợi thế về công nghiệp, cảng biển, năng lượng, kinh tế cửa khẩu, cao nguyên và biển đảo được kết nối thành một hệ sinh thái phát triển thống nhất, có sức cạnh tranh và tạo ra giá trị bền vững.

