Quốc tử giám nơi hun đúc nhân tài

Năm 2026 này, chúng ta kỷ niệm 950 năm thành lập Quốc tử giám, ngôi trường đại học đầu tiên của nước ta, nơi ươm mầm cho bao thế hệ nhân tài giúp nước.

Theo bộ chính sử quan trọng "Đại Việt sử ký toàn thư", quần thể tôn vinh đạo Nho và nền giáo dục Nho giáo của nước ta được xây dựng từ thời Lý Thánh Tông, khi năm Thần Vũ thứ 2 (1070), nhà vua cho "xây Văn Miếu, đắp tượng Khổng Tử, Chu Công và Tứ phối, vẽ tượng Thất thập nhị hiền, bốn mùa cúng tế". Tiếp đó, sử viết "Hoàng thái tử đến học ở đây", như vậy, ban đầu Văn Miếu đã đóng vai trò trường học của hoàng gia.

Quốc tử giám. Ảnh tư liệu

Quốc tử giám. Ảnh tư liệu

Sang đến đời Vua Lý Nhân Tông, năm 1076, niên hiệu Anh Vũ Chiêu Thắng thứ nhất, Quốc tử giám được thành lập. Nhà vua thực hiện một loạt biện pháp để bồi đắp nhân tài, như: "Cất nhắc những người hiền lương có tài văn võ cho quản quân dân. Chọn quan viên văn chức, người nào biết chữ cho vào Quốc tử giám". Từ lúc này, Quốc tử giám chính thức trở thành trường đại học của quốc gia.

Hoạt động chi tiết của Quốc tử giám dưới thời Lý để lại đến ngày nay chỉ có vậy. Phải sang đến đầu triều Trần, vào đời Vua Trần Thái Tông, năm Thiên Ứng Chính Bình thứ 2 (1243), mới thấy "Toàn thư" chép về sự kiện: "Tháng 2, đắp thành nội, gọi là thành Long Phượng và trùng tu Quốc tử giám". Đến thời Vua Trần Nhân Tông, năm Thiệu Long thứ 15 (1272), mới ghi việc: "Tháng 10, xuống chiếu tìm người tài giỏi, đạo đức, thông hiểu kinh sách làm Tư nghiệp Quốc tử giám (tức hiệu trưởng), tìm người có thể giảng bàn ý nghĩa của tứ thư, ngũ kinh sung vào hầu nơi vua đọc sách".

Vị trí Tư nghiệp Quốc tử giám được triều Trần coi trọng như vậy, nên mới có những bậc hiền lương tiếp tục đảm nhiệm, như Chu Văn An, người được Vua Trần Minh Tông bổ vào chức vụ này, đồng thời trực tiếp dạy thái tử học.

Đó là người được mô tả: "Tính ông cương nghị, thẳng thắn, sửa mình trong sạch, bền giữ tiết tháo, không cầu lợi lộc. Ông ở nhà đọc sách, học vấn tinh thông, nổi tiếng gần xa, học trò đầy cửa, thường có kẻ đỗ đại khoa, vào chính phủ. Như Phạm Sư Mạnh, Lê Bá Quát đã làm hành khiển mà vẫn giữ lễ học trò, khi đến thăm thầy thì lạy hỏi ở dưới giường, được nói chuyện với thầy vài câu rồi đi xa thì lấy làm mừng lắm. Kẻ nào xấu thì ông nghiêm khắc trách mắng, thậm chí la hét không cho vào. Ông là người trong sạch, thẳng thắn, nghiêm nghị, lẫm liệt đáng sợ đến như vậy đấy".

Năm đầu thời nhà Hồ, niên hiệu Thánh Nguyên năm đầu (1400), khi Hồ Quý Ly tổ chức kỳ thi thái học sinh (tức tiến sĩ), lấy đỗ bọn Lưu Thúc Kiệm 20 người, trong đó có Nguyễn Trãi, Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên, Hoàng Hiến, Nguyễn Thành. Sau thời kỳ loạn lạc khi quân Minh xâm lược, sang đến triều Lê, các nhân tài này đều trở thành những người góp phần đào tạo nhân tài cho triều Lê sơ, như Lý Tử Tấn, Vũ Mộng Nguyên và Nguyễn Thành đều làm đến chức Quốc tử giám tế tửu, còn Hoàng Hiến làm đến Quốc tử giám giáo thụ.

Khi Vua Lê Thái Tổ mới ổn định tình hình đất nước, để bắt đầu bồi đắp nhân tài, tháng Giêng năm Thuận Thiên thứ 6 (1433), nhà vua ban lệnh tuyển chọn con trai các quan và học trò 3 lộ Quốc Oai, 2 lộ Bắc Giang (là những lộ lân cận kinh đô) sung vào học ở Quốc tử giám.

Vua Lê Thái Tông lên nối ngôi, cũng nối tiếp vua cha về chính sách ưu tiên các con quan vào học Quốc tử giám. Nhà vua ra lệnh chỉ rằng: Con cháu đích các quan từ lục phẩm trở lên đều cho ghi tên vào học ở Quốc tử giám để đợi tuyển dụng.

Nhà vua cũng ra lệnh chỉ cho các quan lộ, huyện trong nước sai lập ngay danh sách người dự thi của lộ mình, hẹn tới ngày 25 tháng Giêng năm Thiệu Bình thứ nhất (1434) phải tới bản đạo tập hợp điểm danh, đến ngày mồng 1 tháng 2 thì thi. Người nào đỗ thì được miễn lao dịch, bổ vào Quốc tử giám. Những học trò ở nhà học của các lộ, đến 25 tuổi trở lên mà không đỗ thì đuổi về làm dân.

Tháng 2 năm đó, triều đình của Vua Lê Thái Tông tổ chức thi học sinh trong cả nước, lấy đỗ hơn 1.000 người, chia làm 3 bậc. Bậc nhất và bậc nhì thì đưa về Quốc tử giám, bậc ba thì cho về học tại nhà học các lộ, đều cho miễn lao dịch. Không chỉ tuyển chọn sinh viên Quốc tử giám từ học sinh, triều đình Vua Lê Thái Tông còn tuyển chọn từ lại viên trong các bộ. Tháng 8 năm đó, thi lại viên, hỏi về ám tả (chép chính tả), những người đỗ hạng nhất được bổ vào Quốc tử giám, hạng nhì bổ làm sinh đồ và thuộc lại bên văn.

Có thi tuyển cũng có thải loại. Năm Thiệu Bình thứ 2 (1435), tháng 9, triều đình tổ chức thi giám quan ở Quốc tử giám và các lộ, cùng quân dân có học vấn ở Vân Tập đường. Nguyên nhân bởi vì các giám quan nhiều người không xứng chức hoặc nói xấu lẫn nhau, chuyện đến tai triều đình, cho nên cho phải thi để thải bỏ, mặt khác, cho thi để chọn lấy quân dân bổ sung chân khuyết.

Chính sách thi tuyển này tiếp tục được nối dài ở thời Lê Thánh Tông, đặc biệt vị vua này còn mở rộng cho binh lính cũng được dự thi. Năm Quang Thuận thứ 8 (1467), nhà vua cho con cháu các quan viên trước đã sung làm quân ở vệ Kim ngô được đi thi, người nào thi đỗ thì sung làm giám sinh Quốc tử giám, nếu thi hội trúng trường 6 thì sung làm tam xá sinh (sinh viên 3 xá: thượng xá, trung xá, hạ xá). Người nào đỗ thi Hương và có tư chất tốt thì cho giám quan kê ra, tâu xin cho ở lại học tập.

Đặc biệt, từ tháng 3 năm đó, Vua Lê Thánh Tông theo lời của Bộ Lại, cho khảo thí cận thị học sinh đề bổ làm huyện thừa các huyện; khảo thí giám sinh Quốc tử giám và lại viên các nha môn để bổ làm giáo chức (quan coi việc dạy học) ở các phủ. Giám sinh được bổ làm quan bắt đầu từ lúc này.

Sang đến niên hiệu Hồng Đức thứ 15 (1484), Vua Lê Thánh Tông tiếp tục định lệnh bổ dụng sinh viên 3 xá. Đó là theo lời Phó đô Ngự sử đài Quách Hữu Nghiêm tâu rằng: "Bọn thần trộm thấy quy định về sinh viên 3 xá của Quốc tử giám, cho phép người nào mỗi năm thi hội mà trúng một kỳ được các kỳ: hễ trúng được 3 kỳ thì làm sung làm thượng xá sinh, trúng được 2 kỳ thì làm trung xá sinh, trúng một kỳ thì sung làm hạ xá sinh, mỗi xá là 100 người đều được cấp tiền kho. Sinh viên 3 xá mỗi người đều được 9 tiền. Đến khi bổ dùng, thì Bộ Lại và quan Quốc tử giám bảo lĩnh tiến cử để chọn bổ, còn như số lượng chọn bổ thì 3 xá đều nhất loạt giống nhau không có phân biệt. Nay, về tiền lương của sinh viên 3 xá thì hạ xá sinh nên giảm, thượng xá sinh nên tăng 1 tiền cho đủ 1 quan, trung xá sinh để nguyên 9 tiền như trước, hạ xá sinh giảm 1 tiền còn 8 tiền. Đến khi bổ dụng thì Bộ Lại và quan Quốc tử giám chỗ khuyết mà bảo cử: thượng xá sinh 3 phần, trung xá sinh 2 phần, hạ xá sinh 1 phần. Như thế thì sinh viên 3 xá thi trúng được mấy kỳ, học giỏi hay kém, thứ bậc trước sau được thích hợp mà nhân tài trong nước đều được khuyến khích". Vua y theo.

Năm Hồng Đức thứ 27 (1496), triều đình lại ban hành quy định, từ nay, Nho học huấn đạo các xứ có khuyết thì Bộ Lại theo như lệ trước tâu lên, giao cho Quốc tử giám và quan các nha môn chọn bầu các lại viên là chân Nho sinh đã trúng trường và Nho sinh tuổi từ 35 trở lên, có học vấn và hạnh kiểm, không phạm lỗi, giao cho Bộ Lễ khảo xét, nếu 4 kỳ đều hợp cách cả thì theo lệ mà thuyên bổ.

Đời Vua Lê Hiến Tông, năm Cảnh Thống thứ 3 (1500), triều Lê ra sắc chỉ quy định các thể lệ thi Hương để thi hành. Theo đó, những viên lại điển thi Hương được trúng thức thì được sung vào Quốc tử giám học tập. Các xá sinh thi hội trúng tam trường và hàng năm nhiều lần trúng thưởng, nếu chức huấn đạo có khuyết thì cho quan Quốc tử giám bảo đảm người có đức hạnh, có tư cách đáng làm thầy đưa sang Bộ Lại để thuyên bổ.

Đời Vua Lê Uy Mục, năm Đoan Khánh thứ 5 (1509), Lại khoa đô cấp sự trung Dương Đức Giản tâu rằng: "Năm Hồng Đức thứ 7 (1476) có sắc chỉ quy định Quốc tử giám sinh, tam xá sinh người nào từ 30 tuổi trở lên thì bản quan mới được bảo cử bổ dụng; năm thứ 8 có sắc chỉ nói Nho sinh ở Sùng Văn quán và Tú Lâm cục do bản quan bảo kết khảo xét, người nào lâu năm, tài cán và thi Hội trúng trường đều được bổ dụng. Thần trộm thấy, giám sinh, Nho sinh chưa đến 30 tuổi, vào học chưa đầy 15 năm, chỉ vì thi Hội trúng trường lại hay được may mắn tiến thân, như thế thì có sự hỗn loạn không ổn. Cúi xin, kể từ nay, các giám sinh, Nho sinh tuổi từ 30 trở lên và vào học đã đủ 15 năm trở lên thì bản quan mới được bảo cử bổ dụng như lệ. Người nào dám lấy tình riêng mà bảo cử người tuổi trẻ, năm ít, thì khoa phụ trách, Ngự sử đài tâu hặc trị tội để răn đe những kẻ làm tôi theo tình riêng bảo cử bậy và trừ cái tệ cầu may hỗn loạn".

Tuy nhiên, Ninh quận công Lê Quảng Độ xin bổ sung rằng: "Giám sinh Quốc tử giám, người nào thi Hội nhiều lần trúng trường, vào học 15 năm trở lên, tuổi cao, trúng trường nhiều mới được sung làm Thượng xá sinh, được dẫn tuyển bổ dụng các chức mục dân, thủ lĩnh, bạn độc, trưởng sử, huấn đạo. Nếu trúng trường nhiều lần, đã đủ 15 năm, mà chưa được sung là Xá sinh và những người trúng trường một lần, đã đủ 18 năm trở lên, thì cũng cho bảo cử, bổ làm các chức cáp môn, tự ban, bạn độc, trưởng sử, giảng dụ".

Việc học hành trong Quốc tử giám bị sao nhãng suốt từ đầu thời Lê trung hưng. Mãi đến năm Vĩnh Thọ thứ 5 (1662), "Toàn thư" mới nhắc đến: "Tháng 5, sai Tham tụng Lễ Bộ thượng thư kiêm Đông các đại học sĩ thiếu bảo Yên quận công Phạm Công Trứ trông coi dân tạo lệ của Quốc tử giám để phục dịch. Bấy giờ, điện đường và cung tường trong ngoài của nhà Quốc học nhiều chỗ dột nát, hoang rậm, Công Trứ sửa sang thêm, nên quy mô chế độ dần dần lại lộng lẫy. Cứ đến ngày mồng 1 và ngày rằm hằng tháng, thì đại hội các học trò để học tập. Từ đấy, Nho phường được thêm dóng dả, nhân tài nhiều người thành đạt".

Lê Tiên Long

Nguồn ANTG: https://antgct.cand.com.vn/khoa-hoc-van-minh/quoc-tu-giam-noi-hun-duc-nhan-tai-i795311/