Quy định về phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân phục vụ điều tra, truy tố, xét xử
Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao vừa ký ban hành Thông tư liên tịch số 03/2026/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 14/5/2026 quy định về phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân phục vụ điều tra, truy tố, xét xử (Thông tư liên tịch số 03).
Bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc theo quy định tại Điều 4 của Luật Thi hành án hình sự
Thông tư liên tịch số 03 quy định phối hợp trong việc thực hiện trình tự, thủ tục trích xuất phạm nhân ra khỏi trại giam, trại tạm giam, phân trại tạm giam để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử và chế độ đối với phạm nhân được trích xuất trong thời gian trích xuất.
Đối tượng áp dụng gồm: Các cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cơ quan quản lý thi hành án hình sự, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu, trại giam, trại tạm giam, phân trại tạm giam và phạm nhân; tổ chức, cá nhân khác có liên quan đến hoạt động trích xuất phạm nhân.
Thông tư liên tịch số 03 nêu rõ các nguyên tắc phối hợp đó là: Bảo đảm tuân thủ đúng nguyên tắc thi hành án hình sự theo quy định tại Điều 4 của Luật Thi hành án hình sự.
Bảo đảm thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mỗi cơ quan theo quy định của pháp luật.
Chủ động, thường xuyên, kịp thời, tạo điều kiện để cơ quan, người có thẩm quyền liên quan đến hoạt động trích xuất phạm nhân hoàn thành nhiệm vụ theo quy định của pháp luật.
Bảo đảm chế độ bảo mật thông tin theo quy định của pháp luật.
Thủ tục yêu cầu trích xuất phạm nhân
Về thủ tục yêu cầu trích xuất phạm nhân, Thông tư liên tịch số 03 quy định: 1. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, VKSND tối cao khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố thì việc gửi văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân được thực hiện như sau:
a) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Công an thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an; phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam, trại tạm giam thuộc Bộ Quốc phòng thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng để ra lệnh trích xuất phạm nhân.
b) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam thuộc Công an cấp tỉnh trực tiếp quản lý thì phải gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh để ra lệnh trích xuất phạm nhân.
c) Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam do cấp quân khu quản lý thì phải gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi có trại tạm giam để ra lệnh trích xuất phạm nhân.
2. TAND tối cao, TAND cấp tỉnh, TAND khu vực, Tòa án quân sự trung ương, Tòa án quân sự cấp quân khu, Tòa án quân sự khu vực khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ xét xử thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi sẽ tiến hành xét xử hoặc nơi phạm nhân được trích xuất phải có mặt để Tòa án tiến hành xét xử để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân theo thẩm quyền.

Quang cảnh một Hội nghị phổ biến, quán triệt nội dung các Thông tư liên tịch về phối hợp liên ngành trong hoạt động tố tụng. (Ảnh minh họa)
3. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc CAND, VKSND cấp tỉnh hoặc cấp khu vực khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân để phục vụ điều tra, truy tố thì gửi văn bản yêu cầu trích xuất đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh nơi cơ quan yêu cầu trích xuất có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân theo thẩm quyền.
4. Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp quân khu, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng thuộc cấp khu vực khi có yêu cầu trích xuất phạm nhân thì gửi văn bản đến thủ trưởng cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi cơ quan yêu cầu trích xuất có trụ sở để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân theo thẩm quyền.
5. Các trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại giam bị khởi tố bị can về tội phạm khác, trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định khởi tố bị can, cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã ra quyết định khởi tố bị can phải có văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân gửi đến cơ quan có thẩm quyền quy định tại các khoản 1, 2, 3 và 4 Điều này để ra lệnh trích xuất hoặc đề nghị ra lệnh trích xuất phạm nhân về trại tạm giam, phân trại tạm giam để phục vụ điều tra.
Trường hợp phạm nhân đang chấp hành án tại trại tạm giam, phân trại tạm giam bị cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đóng trên địa bàn nơi phạm nhân chấp hành án khởi tố bị can, thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định khởi tố bị can đối với phạm nhân đó, cơ quan, người tiến hành tố tụng phải có văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân gửi đến Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu nơi phạm nhân đang chấp hành án để ra lệnh trích xuất phạm nhân ra khỏi khu giam giữ phạm nhân và tổ chức quản lý giam giữ phạm nhân bị khởi tố bị can tại trại tạm giam, phân trại tạm giam đó theo quy định tại khoản 1 Điều 9 của Thông tư liên tịch này.
6. Văn bản yêu cầu trích xuất phạm nhân của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng có các nội dung sau đây:
a) Cơ quan yêu cầu trích xuất; họ tên, chức vụ, chức danh, chữ ký của người có thẩm quyền yêu cầu trích xuất và đóng dấu.
b) Họ, tên, ngày, tháng, năm sinh, nơi đăng ký thường trú của phạm nhân; ngày bị bắt; tội danh; thời hạn bị phạt tù; theo bản án số, ngày, tháng, năm, của Tòa án; quyết định thi hành án số, ngày, tháng, năm của Tòa án và nơi phạm nhân đang chấp hành án phạt tù; tư cách tham gia tố tụng của phạm nhân được trích xuất trong vụ án do cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng yêu cầu trích xuất phạm nhân đang thụ lý theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
c) Mục đích và thời hạn trích xuất; cơ quan, đơn vị được phân công nhận và áp giải phạm nhân được trích xuất; cơ sở giam giữ nơi nhận, quản lý phạm nhân được trích xuất trong thời gian trích xuất phạm nhân.
Trả lại phạm nhân được trích xuất để tiếp tục chấp hành án
Mặt khác, Thông tư liên tịch số 03 cũng quy định về việc trả lại phạm nhân được trích xuất để tiếp tục chấp hành án.
Cụ thể: 1. Hết thời hạn ghi trong lệnh trích xuất, lệnh gia hạn trích xuất hoặc trong thời hạn trích xuất, thời hạn gia hạn trích xuất nếu không có nhu cầu tiếp tục trích xuất và không thuộc một trong các trường hợp quy định tại các khoản 1, 4 và 5 Điều 7 của Thông tư liên tịch này hoặc khi nhận được quyết định đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ điều tra của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng đang thụ lý vụ án đối với phạm nhân được trích xuất thì cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất phải gửi thông báo cho cơ quan đã ra lệnh trích xuất và áp giải, bàn giao phạm nhân được trích xuất kèm theo phiếu khám sức khỏe, bản nhận xét kết quả chấp hành nội quy cơ sở giam giữ và tài liệu liên quan trong thời gian trích xuất cho cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để tiếp tục thi hành án.
2. Trường hợp phạm nhân được trích xuất để xét xử về tội khác thì việc trả lại phạm nhân cho cơ quan đã giao phạm nhân để tiếp tục chấp hành án được tiến hành khi bản án mới xét xử có hiệu lực pháp luật và có quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án nếu bản án mới chưa tổng hợp hình phạt.
3. Việc tiếp nhận phạm nhân được trích xuất trả lại cơ quan đã giao phạm nhân được trích xuất để tiếp tục chấp hành án được thực hiện theo quy định tại các khoản 2, 3 và 4 Điều 24 của Luật Thi hành án hình sự.
4. Trường hợp phạm nhân được trích xuất từ trại tạm giam để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử mà sau khi xét xử phạm nhân đó không còn thuộc đối tượng phục vụ việc tạm giữ, tạm giam theo quy định tại khoản 2 Điều 175 của Luật Thi hành án hình sự thì trong thời hạn 5 ngày làm việc kể từ ngày cơ quan nhận phạm nhân được trích xuất bàn giao trả lại phạm nhân để tiếp tục chấp hành án, cơ quan tiếp nhận phạm nhân được trích xuất phải báo cáo cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp tỉnh, cơ quan thi hành án hình sự cấp quân khu để hoàn chỉnh hồ sơ, lập danh sách báo cáo cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Công an, cơ quan quản lý thi hành án hình sự Bộ Quốc phòng ra quyết định điều chuyển phạm nhân đến trại giam chấp hành án.
Thông tư liên tịch số 03 gồm 3 chương, 14 điều, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 1/7/2026. Thông tư liên tịch số 01/2020/TTLT-BCA-BQP-TANDTC-VKSNDTC ngày 17/6/2020 của Bộ trưởng Bộ Công an, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Chánh án TAND tối cao, Viện trưởng VKSND tối cao quy định về phối hợp thực hiện trích xuất phạm nhân, học sinh đang chấp hành biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng để phục vụ điều tra, truy tố, xét xử hết hiệu lực thi hành kể từ ngày Thông tư liên tịch này có hiệu lực thi hành.











