Quy hoạch lại mạng lưới đường bộ cho mục tiêu tăng trưởng '2 con số'
Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đang được xem xét điều chỉnh sẽ không chỉ đáp ứng nhu cầu giao thông thuần túy, mà còn phải gắn trực tiếp với mục tiêu tăng trưởng GDP '2 con số' và tái cấu trúc không gian phát triển cho đất nước.
Tư duy quy hoạch mới
Đúng 1 tháng sau khi Chính phủ ban hành Nghị quyết số 109/NQ-CP ngày 16/4/2026 về cập nhật, bổ sung Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, Bộ Xây dựng đã bắt đầu lấy ý kiến các bộ, ngành và UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với hồ sơ điều chỉnh Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050.
Cần phải nói thêm rằng, kể từ khi Quy hoạch mạng lưới đường bộ thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1454/QĐ-TTg ngày 1/9/2021, đây là lần điều chỉnh quy hoạch thứ hai.

Một đoạn cao tốc Hữu Nghị - Chi Lăng chuẩn bị đưa vào khai thác trong vài ngày tới. Ảnh tư liệu
“Khác với các lần cập nhật mang tính kỹ thuật trước đây, đợt điều chỉnh lần này được đặt trong bối cảnh yêu cầu tái cấu trúc không gian phát triển quốc gia, mở rộng các hành lang kinh tế liên vùng và đáp ứng mục tiêu tăng trưởng GDP “2 con số” trong giai đoạn phát triển mới trong điều kiện nhiều địa phương, phường, xã đã thực hiện hợp nhất” - ông Lê Anh Tuấn - Thứ trưởng Bộ Xây dựng cho biết.
Thay đổi lớn đầu tiên trong Báo cáo điều chỉnh quy hoạch là việc Cục Đường bộ Việt Nam - đơn vị chủ trì lập quy hoạch đề xuất nâng mạnh các chỉ tiêu phát triển vận tải và hạ tầng đường bộ. Theo đó, đến năm 2030, vận tải hàng hóa đường bộ dự kiến đạt khoảng 3.280 triệu tấn, tăng 18,7% so với quy hoạch trước; vận tải hành khách đạt khoảng 10.348 triệu lượt khách, tăng 9,7%. Khối lượng luân chuyển hàng hóa nội địa đạt khoảng 190,6 tỷ tấn.km, tăng 17,1%; hành khách nội địa đạt khoảng 367,4 tỷ khách.km, tăng tới 29,5%.
Đáng chú ý, cơ quan lập quy hoạch đặt mục tiêu đến năm 2030 cơ bản hoàn thành các tuyến cao tốc kết nối liên vùng, kết nối cảng biển cửa ngõ quốc tế, cảng hàng không quốc tế, cửa khẩu quốc tế lớn và các đô thị động lực; đồng thời hoàn thành trên 5.000 km đường bộ cao tốc trên cả nước.
“Lần đầu tiên quy hoạch mạng lưới đường bộ đặt mục tiêu thích ứng hiệu quả với nước biển dâng và biến đổi khí hậu cho thấy tư duy phát triển hạ tầng giao thông không còn chỉ tập trung vào mở rộng năng lực vận tải, mà đã chuyển mạnh sang định hướng phát triển bền vững, nâng cao khả năng chống chịu và thích ứng dài hạn trước các rủi ro khí hậu” - một chuyên gia giao thông nhận định.
Định hướng kết nối đường bộ trong quy hoạch điều chỉnh cũng cho thấy tư duy phát triển đã chuyển mạnh từ kết nối cục bộ sang hình thành các hành lang kinh tế liên vùng và liên vận quốc tế.
Cụ thể, hệ thống cao tốc Bắc - Nam tiếp tục đóng vai trò “xương sống” của mạng lưới đường bộ quốc gia. Tại phía Bắc, quy hoạch ưu tiên các trục Đông - Tây kết nối khu vực miền núi với hệ thống cảng biển phía Đông và trung tâm Hà Nội. Tại miền Trung, các tuyến Đông - Tây được định hướng tăng cường kết nối khu vực phía Tây với các cảng biển và liên kết với Lào, Campuchia.
Trong khi đó, khu vực phía Nam sẽ phát triển các trục Bắc - Nam, Đông - Tây nhằm khai thác hiệu quả lợi thế cảng biển, cảng hàng không, vận tải thủy nội địa và kết nối quốc tế; đồng thời hình thành các tuyến vành đai, trục hướng tâm kết nối với TP. Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Gần 10.000 km cao tốc vào năm 2050
Theo quy hoạch đã được phê duyệt, mạng lưới quốc lộ có tiêu chuẩn đường cao tốc gồm 43 tuyến, tổng chiều dài khoảng 8.923 km. Tuy nhiên, trên cơ sở rà soát nhu cầu phát triển mới, liên danh tư vấn TEDI - TEDIS đề xuất nâng lên thành 47 tuyến với tổng chiều dài khoảng 9.910 km.
Cụ thể, hồ sơ điều chỉnh quy hoạch đề xuất bổ sung mới 4 tuyến cao tốc gồm: Lạng Sơn - Thái Nguyên - Tuyên Quang - Yên Bái - Sơn La; Lạng Sơn - Tuyên Quang - Lào Cai - Sơn La; Hà Nội - Gia Bình - Quảng Ninh và Phan Thiết - Bảo Lộc - Gia Nghĩa. Trong đó, hai tuyến Hà Nội - Gia Bình - Quảng Ninh và Phan Thiết - Bảo Lộc - Gia Nghĩa được đề xuất đầu tư trước năm 2030.
Liên danh tư vấn cũng đề xuất đẩy nhanh tiến độ đầu tư tuyến Bảo Hà - Lai Châu lên trước năm 2030, đồng thời lùi tiến độ đầu tư đoạn Bắc Ninh - Hạ Long sang sau năm 2030.
Bên cạnh đó, tuyến cao tốc TP. Hồ Chí Minh - Tiền Giang - Bến Tre - Trà Vinh - Sóc Trăng được đề xuất kéo dài đến Cà Mau nhằm tăng cường kết nối Đồng bằng sông Cửu Long với TP. Hồ Chí Minh và vùng Đông Nam Bộ, đồng thời mở không gian phát triển kinh tế ven biển và giảm tải cho Quốc lộ 1.
Đối với tuyến cao tốc Bắc - Nam phía Đông đoạn Pháp Vân - Cầu Giẽ, cơ quan lập quy hoạch đề xuất trước mắt giữ nguyên quy mô đã được phê duyệt với 10 - 12 làn xe nhằm bảo đảm định hướng phát triển dài hạn của Thủ đô Hà Nội theo tầm nhìn 100 năm.
Theo định hướng quy hoạch Thủ đô, trục Quốc lộ 1A - cao tốc Pháp Vân - Cầu Giẽ được xác định là một trong 9 trục động lực phát triển theo hướng Bắc - Nam, đóng vai trò hành lang kinh tế chủ đạo kết nối Hà Nội với mạng lưới kinh tế quốc gia phía Nam và vùng duyên hải.
Tương tự, cơ quan lập quy hoạch đề nghị giữ nguyên quy mô một số tuyến cao tốc đã được nghiên cứu nâng cấp trong các giai đoạn trước do lưu lượng dự báo vẫn phù hợp với quy mô hiện tại.
Cụ thể, tuyến Ninh Bình - Hải Phòng (CT.08) tiếp tục giữ quy mô 4 làn xe thay vì nâng lên 6 làn. Tương tự, hai tuyến TP. Hồ Chí Minh - Chơn Thành (CT.30) và TP. Hồ Chí Minh - Mộc Bài (CT.31) cũng được đề xuất giữ quy mô 6 làn xe thay vì nâng lên 8 làn nhằm bảo đảm phù hợp với nhu cầu vận tải dự báo và các dự án đang triển khai.
Trên cơ sở nội dung điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, nhu cầu vốn đầu tư sơ bộ cho phát triển hạ tầng đường bộ được xác định khoảng 3,4 triệu tỷ đồng. Đồng thời, cơ quan lập quy hoạch cũng đề xuất danh mục 11 công trình, dự án đường bộ quan trọng quốc gia và ưu tiên đầu tư trong giai đoạn tới.
Các dự án ưu tiên được lựa chọn trên cơ sở khả năng cân đối nguồn lực đầu tư cho ngành giao thông so với quy mô GDP và khả năng huy động vốn; ưu tiên các hành lang vận tải chính, kết nối liên vùng, kết nối các vùng kinh tế trọng điểm có đóng góp lớn cho tăng trưởng; đồng thời từng bước nâng tỷ trọng đầu tư cho các khu vực còn khó khăn như Tây Nguyên, Tây Bắc và Đồng bằng sông Cửu Long.
“Nhu cầu phát triển hạ tầng đường bộ, đặc biệt là hệ thống cao tốc, sẽ tiếp tục biến động theo tốc độ phát triển kinh tế, nhu cầu vận tải và quá trình tái cấu trúc không gian phát triển. Vì vậy, trong quá trình triển khai, cơ quan quản lý và các địa phương sẽ tiếp tục rà soát, cập nhật các tuyến phát sinh nhu cầu và có khả năng cân đối nguồn lực để đầu tư ở thời điểm phù hợp” - ông Nguyễn Thanh Hoài - Phó cục trưởng Cục Đường bộ Việt Nam cho biết.












