Quy hoạch vùng lõi - vùng ảnh hưởng
TPHCM sau sáp nhập đang đòi hỏi một tư duy quy hoạch mới. Mô hình vùng đại đô thị với cấu trúc 'vùng lõi - vùng ảnh hưởng' có thể trở thành chìa khóa để tích hợp hạ tầng, kinh tế và thể chế ở quy mô vùng, mở ra quỹ đạo phát triển mới cho thành phố.
Sau sáp nhập, TPHCM đạt quy mô khoảng 6.700km2 với gần 14 triệu dân, tiệm cận giới hạn của một siêu đô thị. Quy mô mới mở ra cơ hội phát triển lớn nhưng cũng bộc lộ rõ những điểm nghẽn kéo dài, nhất là hạ tầng giao thông và kết nối vùng. Ở đó, một số tuyến đường huyết mạch như quốc lộ 13, quốc lộ 51 thường xuyên quá tải, hệ thống đường sắt liên kết vùng hạn chế, tỷ lệ giao thông công cộng thấp đã làm tăng chi phí logistics và giảm sức cạnh tranh của chuỗi cung ứng. Thành phố cũng đối mặt với những thách thức môi trường như nước biển dâng, sụt lún đất và ô nhiễm không khí...
Trong bối cảnh đó, quy hoạch TPHCM theo mô hình vùng đại đô thị trở thành một định hướng tất yếu, tạo cơ sở kết nối hiệu quả những dòng chảy lao động, logistics, đổi mới sáng tạo và đầu tư. Trọng tâm của mô hình quy hoạch vùng đại đô thị là xác định rõ “vùng lõi” và “vùng ảnh hưởng”, qua đó tránh đầu tư chồng chéo và bảo đảm tính thống nhất về chuẩn hạ tầng, tiêu chuẩn môi trường và phân bổ nguồn lực.
Khi áp dụng vào TPHCM, vùng lõi sẽ bao gồm 3 cực tăng trưởng chính. Trung tâm hạt nhân TPHCM đóng vai trò lõi tài chính, dịch vụ cao cấp, giáo dục - y tế chuyên sâu và kinh tế tri thức. Cực phía Bắc (vùng Bình Dương trước dây) trở thành trung tâm công nghệ cao, sản xuất thế hệ mới và logistics nội vùng, với định hướng chuyển đổi khu công nghiệp theo mô hình sinh thái và kinh tế tuần hoàn. Trong khi đó, cực phía Đông (vùng Bà Rịa - Vũng Tàu trước đây) phát triển thành trung tâm cảng biển quốc tế, logistics biển, năng lượng và du lịch chất lượng cao. Bao quanh 3 cực này, vùng ảnh hưởng sẽ là hệ thống những trung tâm cấp vùng, gắn với trục 2 sân bay Tân Sơn Nhất, Long Thành, kết hợp nhiều cảng cạn và điểm trung chuyển liên phương thức. Những khu vực này sẽ được quy hoạch đồng bộ với chỉ tiêu về việc làm - nhà ở, tỷ lệ phát triển theo định hướng giao thông công cộng, quỹ đất cho nhà ở vừa túi tiền, hạ tầng xã hội, hạ tầng xanh và trữ nước.
Để hiện thực hóa cấu trúc không gian “vùng lõi - vùng ảnh hưởng”, quy hoạch TPHCM có thể dựa trên 4 trụ cột chiến lược: giao thông công cộng, hạ tầng xanh - thích ứng khí hậu, đổi mới sáng tạo - kinh tế tri thức và công nghệ - quản trị dữ liệu. Trong đó, giao thông công cộng giữ vai trò khung xương của cấu trúc phát triển, kết nối lõi trung tâm với những cực tăng trưởng, sân bay, cảng biển và trung tâm logistics; hạ tầng xanh và hệ thống trữ nước giúp tăng khả năng thích ứng với biến đổi khí hậu thông qua các hành lang sinh thái và vùng trữ nước; hành lang đổi mới sáng tạo phía Đông với lõi Thủ Đức - Dĩ An - Thuận An hình thành trung tâm kinh tế tri thức của vùng; trong khi hạ tầng số và những mô hình đô thị số hỗ trợ mô phỏng giao thông, ngập lụt, dân số và nhà ở, qua đó nâng cao hiệu quả quản trị đô thị dựa trên dữ liệu.
Những giải pháp thực thi nên được triển khai theo cấp độ không gian tương ứng: giãn dân và tái phân bổ dân số theo năng lực hạ tầng của từng trung tâm cấp vùng, ưu tiên phát triển dân cư và việc làm tại các khu vực gắn với giao thông công cộng nhằm tránh hình thành “đô thị ngủ”. Với vùng lõi trung tâm, nên giảm áp lực thông qua việc tái thiết đô thị nén, chuyển đổi khu công nghiệp và kho bãi cũ thành khu đô thị hỗn hợp gắn với giao thông công cộng. Công tác quy hoạch tuân thủ phân vùng rủi ro, thiết lập ranh giới tăng trưởng đô thị gắn với những hành lang sinh thái và vùng trữ nước, cùng nhiều chính sách ưu tiên cho từng vùng chức năng, khu kinh tế và khu thương mại tự do, kèm cơ chế điều phối và quỹ phát triển vùng đủ mạnh.
Nguồn SGGP: https://sggp.org.vn/quy-hoach-vung-loi-vung-anh-huong-post842614.html












