Quý I/2026: Thị trường lao động tiếp tục duy trì ổn định
Trong quý I/2026, thị trường lao động Việt Nam duy trì ổn định, tỷ lệ thất nghiệp thấp, thu nhập tăng. Nhìn chung, so với cùng kỳ năm trước, các chỉ tiêu lao động-việc làm có xu hướng cải thiện.

Công nhân làm việc tại một dây chuyền may mặc của Tổng Công ty cổ phần May Việt Tiến. (Ảnh nhandan.vn)
Thông tin từ Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho biết, trong nước, thị trường lao động quý I năm 2026 tiếp tục duy trì ổn định, với quy mô lực lượng lao động và số người có việc làm biến động nhẹ so với quý trước. So với cùng kỳ năm trước, các chỉ tiêu lao động việc làm nhìn chung có xu hướng cải thiện với số người có việc làm tăng và cơ cấu lao động tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực. Tỷ lệ lao động phi chính thức giảm, tình trạng thiếu việc làm và thất nghiệp cơ bản được kiểm soát. Thu nhập của người lao động tiếp tục tăng, góp phần cải thiện đời sống và chất lượng việc làm.
Lực lượng lao động tiếp tục tăng, chất lượng nguồn lao động ngày càng được cải thiện
Theo Cục Thống kê, lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên trong quý I năm 2026 đạt 53,6 triệu người, giảm 232,9 nghìn người so với quý trước nhưng tăng 687,8 nghìn người so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm theo quý chủ yếu mang tính thời điểm, do tác động của kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, gián đoạn ngắn hạn của hoạt động sản xuất, kinh doanh và một bộ phận người lao động chưa quay trở lại thị trường lao động.

Lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên theo quý, giai đoạn 2024-2026 (Đơn vị: Triệu người). (Nguồn NSO)
Tuy nhiên, xét theo xu hướng năm, lực lượng lao động vẫn tiếp tục tăng, phản ánh xu hướng gia tăng dân số trong độ tuổi lao động, cùng với mức độ tham gia thị trường lao động ổn định.
So với quý trước, lực lượng lao động giảm ở cả khu vực thành thị và nông thôn, với mức giảm về số tuyệt đối tương đối gần nhau, lần lượt là 113 nghìn người và 119,9 nghìn người. Tuy nhiên, xét theo tỷ lệ, mức giảm ở khu vực thành thị cao hơn khu vực nông thôn (giảm 0,53% so với 0,37%), cho thấy mức độ biến động của lực lượng lao động tại khu vực thành thị rõ nét hơn trong bối cảnh tác động của yếu tố mùa vụ. Điều này phản ánh tính linh hoạt và mức độ nhạy cảm cao hơn của thị trường lao động khu vực thành thị trước các biến động ngắn hạn.
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động quý I năm 2026 là 68,3%, cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động của nữ giới là 62,3% và của nam giới là 74,5%. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động khu vực thành thị là 66,1%, thấp hơn 3,6 điểm phần trăm so với khu vực nông thôn (69,7%).
Tỷ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ quý I năm 2026 là 29,6%, cao hơn 0,1 điểm phần trăm so với quý trước và cao hơn 0,8 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy chất lượng nguồn lao động ngày càng được cải thiện.
Lao động có việc làm trong quý I năm 2026 đạt 52,5 triệu người, giảm 233,4 nghìn người, tương ứng giảm 0,4% so với quý trước và tăng 656,8 nghìn người, tương ứng tăng 1,3% so với cùng kỳ năm trước. Mức giảm theo quý mang tính thời điểm, phù hợp với diễn biến của lực lượng lao động trong cùng kỳ.
Trong đó, lao động có việc làm khu vực thành thị là 20,6 triệu người, chiếm 39,2%, giảm 122,2 nghìn người so với quý trước và tăng 587,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước; khu vực nông thôn là 31,9 triệu người, giảm 111,2 nghìn người so với quý trước và tăng 69,3 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Lao động có việc làm khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng cao nhất với 41,0%, tương ứng 21,5 triệu người; tiếp đến là khu vực công nghiệp và xây dựng chiếm 33,7%, tương ứng 17,7 triệu người; khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng thấp nhất với 25,3%, tương ứng 13,3 triệu người.
So với quý trước, lao động có việc làm giảm ở hầu hết các khu vực, trong đó khu vực công nghiệp và xây dựng giảm 133,9 nghìn người, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 104,6 nghìn người; riêng khu vực dịch vụ tăng không đáng kể, với mức 5,1 nghìn người. So với cùng kỳ năm trước, lao động khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp và xây dựng lần lượt tăng 426,2 nghìn người và 417,9 nghìn người, trong khi khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản giảm 187,4 nghìn người.
Như vậy, theo xu hướng năm, lao động có việc làm tiếp tục chuyển dịch theo hướng tăng ở khu vực dịch vụ và khu vực công nghiệp và xây dựng, đồng thời giảm ở khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản. Diễn biến này phù hợp với xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng giảm tỷ trọng lao động trong khu vực nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động trong các ngành phi nông nghiệp.
Thu nhập bình quân của người lao động đạt 9 triệu đồng/tháng
Cơ quan thống kê quốc gia thông tin, trong quý I năm 2026, thu nhập bình quân tháng của người lao động tiếp tục được cải thiện, đạt 9 triệu đồng, tăng 329,2 nghìn đồng (tương ứng 3,8%) so với quý trước và tăng 705,7 nghìn đồng (tương ứng 8,5%) so với cùng kỳ năm trước.
Thu nhập bình quân tháng của lao động nam cao gấp 1,31 lần lao động nữ (10,1 triệu đồng so với 7,7 triệu đồng). Thu nhập bình quân tháng của lao động khu vực thành thị cao gấp 1,34 lần khu vực nông thôn (10,7 triệu đồng so với 7,9 triệu đồng). Mức tăng thu nhập của người lao động, trong bối cảnh lạm phát được kiểm soát, góp phần cải thiện thu nhập thực và đời sống của người lao động.
Cùng với đó, so với cùng kỳ năm trước, thu nhập bình quân tháng của người lao động quý I năm 2026 tăng lên ở ba khu vực kinh tế. Trong đó, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản có mức tăng cao nhất, đạt 5,5 triệu đồng, tăng 13,1% (tương ứng tăng 636 nghìn đồng) so với cùng kỳ năm trước; khu vực công nghiệp và xây dựng đạt 9,8 triệu đồng, tăng 7,4% (tương ứng tăng 669 nghìn đồng); khu vực dịch vụ đạt 10,6 triệu đồng, tăng 7,1% (tương ứng tăng 702 nghìn đồng).
Trong quý I/2026, thu nhập bình quân tháng của lao động làm công hưởng lương là 10 triệu đồng, tăng 6,6%, tương ứng tăng 622 nghìn đồng so với cùng kỳ năm trước. Lao động nam có mức thu nhập bình quân cao hơn mức thu nhập bình quân của lao động nữ là 1,11 lần (10,5 triệu đồng so với 9,5 triệu đồng). Lao động làm việc trong khu vực thành thị có mức thu nhập bình quân là 11,2 triệu đồng, gấp 1,23 lần mức thu nhập bình quân của lao động ở khu vực nông thôn (9,1 triệu đồng).
Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động hầu như không thay đổi
Theo Cục Thống kê, số người thất nghiệp trong độ tuổi lao động quý I năm 2026 khoảng 1,06 triệu người, nhìn chung không biến động đáng kể so với quý trước và tăng nhẹ 21,8 nghìn người (tương ứng 2,1%) so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp trong độ tuổi lao động là 2,21%, hầu như không thay đổi so với quý trước và cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ thất nghiệp của khu vực thành thị tiếp tục duy trì dưới 3%, thấp hơn mức mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 01/NQ-CP ngày 8/1/2026 của Chính phủ về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2026. Điều này phản ánh thị trường lao động khu vực thành thị tiếp tục được duy trì ổn định.
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên 15-24 tuổi quý I năm 2026 là 8,86%, giảm nhẹ 0,2 điểm phần trăm so với quý trước và tăng 0,9 điểm phần trăm so với cùng kỳ năm trước. Tỷ lệ này ở khu vực thành thị là 10,7%, cao hơn khu vực nông thôn 2,8 điểm phần trăm. So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ thất nghiệp thanh niên giảm ở khu vực thành thị (0,4 điểm phần trăm) nhưng tăng ở khu vực nông thôn (1,5 điểm phần trăm).
Tỷ lệ thất nghiệp của thanh niên cao hơn so với tỷ lệ thất nghiệp chung, phản ánh đặc điểm của nhóm lao động trẻ trong giai đoạn gia nhập thị trường lao động, khi nhu cầu tìm kiếm và lựa chọn việc làm còn cao, trong khi kinh nghiệm làm việc đang được tích lũy và mức độ phù hợp giữa kỹ năng với nhu cầu thị trường lao động chưa hoàn toàn tương thích. Đây là đặc điểm mang tính cấu trúc của thị trường lao động.
Trong quý I năm 2026, có gần 1,6 triệu thanh niên từ 15-24 tuổi không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo (chiếm 11,4% tổng số thanh niên), tăng 172,6 nghìn người so với quý trước và tăng 212,5 nghìn người so với cùng kỳ năm trước.
Tỷ lệ thanh niên không có việc làm và không tham gia học tập, đào tạo ở khu vực nông thôn cao hơn khu vực thành thị 4,1 điểm phần trăm (tương ứng 13% và 8,9%) và ở nữ thanh niên cao hơn so với nam thanh niên 2,8 điểm phần trăm (tương ứng 12,8% so và 10%).











