'Quyền lực mềm' Việt Nam nhìn từ Mùa Hàn Quốc 2026
Mùa Hàn Quốc 2026 gợi mở bài toán xây dựng quyền lực mềm Việt Nam qua công nghiệp văn hóa.
Mùa Hàn Quốc 2026 là chuỗi sự kiện giao lưu văn hóa nghệ thuật do Hàn Quốc tổ chức tại Việt Nam, kéo dài từ tháng 5/2026 đến tháng 1/2027. Chương trình gồm ballet đương đại GAT, lễ hội âm nhạc K Live, hòa nhạc SM Classics Live tại Hà Nội, tuần lễ game Hàn Quốc, biểu diễn nghệ thuật đa phương tiện và triển lãm lấy cảm hứng từ chất liệu truyền thống Hàn Quốc.

“Mùa Hàn Quốc 2026” - Cánh cửa gặp gỡ văn hóa nghệ thuật Hàn Quốc tại Việt Nam. Ảnh: BTC
Hàn Quốc tổ chức văn hóa thành sản phẩm
Trong nhiều năm, thế giới biết đến Hàn Quốc qua Kpop, phim truyền hình, điện ảnh, ẩm thực, thời trang, mỹ phẩm và du lịch. Những lĩnh vực đó không phát triển rời rạc. Chúng nằm trong một hệ sinh thái công nghiệp văn hóa được xây dựng bài bản.
Văn hóa Hàn Quốc đi ra nước ngoài dưới dạng bài hát, bộ phim, chương trình truyền hình, buổi diễn, món ăn, thời trang, trò chơi, triển lãm và tour du lịch. Công chúng quốc tế tiếp cận Hàn Quốc qua những sản phẩm có thể xem, nghe, mua, dùng, chia sẻ và trải nghiệm.
Vở GAT là một ví dụ. Tác phẩm lấy cảm hứng từ chiếc mũ truyền thống gat của Hàn Quốc, nhưng được thể hiện bằng ngôn ngữ ballet đương đại. Chất liệu truyền thống không chỉ được trưng bày như biểu tượng. Nó được chuyển hóa thành sản phẩm sân khấu.
Quyền lực mềm không chỉ là chuyện hình ảnh quốc gia. Nó hình thành khi sản phẩm văn hóa bước vào đời sống quốc tế qua âm nhạc, phim ảnh, ẩm thực, du lịch, truyền thông và thị trường.
Quyền lực mềm Việt Nam cần công nghiệp văn hóa
Việt Nam không thiếu tài nguyên văn hóa. Di sản, ẩm thực, âm nhạc dân tộc, áo dài, cải lương, đờn ca tài tử, quan họ, ca trù, văn học, điện ảnh, game, du lịch địa phương và đời sống đô thị đều có thể trở thành nguồn lực để xây dựng quyền lực mềm Việt Nam.
Nhưng nhiều chất liệu văn hóa của Việt Nam vẫn chưa được phát triển thành sản phẩm đủ sức cạnh tranh. Việt Nam có ẩm thực được quốc tế yêu thích, nhưng thương hiệu ẩm thực Việt ở nước ngoài còn phân tán. Việt Nam có âm nhạc truyền thống phong phú, nhưng chưa có nhiều sản phẩm đủ gần với thói quen nghe nhìn của công chúng trẻ quốc tế.
Một chương trình quảng bá văn hóa Việt Nam ở nước ngoài thường có áo dài, nón lá, đàn bầu, món ăn truyền thống và tiết mục dân gian. Những hình ảnh đó có giá trị. Nhưng nếu chỉ dừng ở giới thiệu, sức lan tỏa sẽ có giới hạn.
Câu hỏi quan trọng hơn là sau chương trình, công chúng nước ngoài có muốn tìm hiểu thêm về Việt Nam hay không. Họ có muốn nghe nhạc Việt, xem phim Việt, ăn món Việt, mua sản phẩm Việt, học tiếng Việt hoặc đến Việt Nam hay không.
Một làn điệu dân ca muốn đi xa cần bản phối, sân khấu, bản ghi và kênh phát hành phù hợp. Một món ăn cần tiêu chuẩn, thương hiệu và mạng lưới phân phối. Một bộ phim hoặc một trò chơi muốn ra nước ngoài cần chất lượng, bản quyền, phụ đề, truyền thông và thị trường.

Các chương trình nghệ thuật truyền thống là nguồn lực quan trọng để xây dựng quyền lực mềm Việt Nam trong công nghiệp văn hóa.
Theo PGS-TS Nguyễn Thế Kỷ, Phó chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, phát triển văn hóa trong giai đoạn mới cần gắn với việc “hoàn thiện thể chế tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực phát triển văn hóa”. Nhìn từ yêu cầu đó, công nghiệp văn hóa Việt Nam không thể chỉ dựa vào lợi thế sẵn có của di sản, lễ hội hay bản sắc vùng miền.
Tài nguyên văn hóa chỉ trở thành sức cạnh tranh khi được đặt trong một cơ chế đủ mở, có nguồn lực đầu tư, có thị trường tiếp nhận và có không gian cho sáng tạo. Khi chất liệu văn hóa được phát triển thành sản phẩm có doanh thu, có thương hiệu và có đời sống trong công chúng quốc tế, văn hóa Việt Nam sẽ có thêm nền tảng để mở rộng sức ảnh hưởng.
Đưa văn hóa Việt ra thế giới bằng cách mới
Việt Nam không cần sao chép nguyên mẫu từ Hàn Quốc. Mỗi quốc gia có lịch sử, thẩm mỹ, nguồn lực và thị trường riêng. Điều Việt Nam cần tham khảo là cách Hàn Quốc tổ chức văn hóa thành một hệ sinh thái, trong đó chính sách, sáng tạo, doanh nghiệp, truyền thông và thị trường cùng tham gia.
Cần một hệ sinh thái trong đó chính sách mở đường, nghệ sĩ tạo sản phẩm, doanh nghiệp đưa sản phẩm vào thị trường và truyền thông giúp sản phẩm được nhận diện rộng hơn. Công chúng quốc tế tiếp nhận văn hóa qua trải nghiệm cụ thể, chứ không chỉ qua lời giới thiệu.
Quyền lực mềm Việt Nam cần những cách tiếp cận cụ thể, từ phim ảnh, ẩm thực, nghệ thuật biểu diễn đến sản phẩm số có khả năng tiếp cận công chúng quốc tế. Những cách tiếp cận đó không tự xuất hiện. Chúng cần đầu tư, chuyên nghiệp hóa và khả năng kết nối giữa sáng tạo với thị trường.
Việt Nam cũng cần những cách tiếp cận đủ rõ, đủ bền và đủ sức cạnh tranh khi đưa văn hóa ra nước ngoài. Quyền lực mềm chỉ hình thành khi tài nguyên văn hóa được tổ chức thành sản phẩm, được kể bằng ngôn ngữ của thời đại và được duy trì bằng một chiến lược dài hơi.
Nguồn Một Thế Giới: https://1thegioi.vn/quyen-luc-mem-viet-nam-nhin-tu-mua-han-quoc-2026-252446.html











