Quyền sở hữu trí tuệ - nguồn lực quan trọng của quốc gia
Theo Kết luận số 51-KL/TW ngày 17/6/2026 của Bộ Chính trị, quyền sở hữu trí tuệ được định vị là một nguồn lực quan trọng của quốc gia, tạo nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế-xã hội bền vững.

Quy trình nộp đơn đăng ký sở hữu trí tuệ tại Cục Sở hữu trí tuệ.
Quan điểm này không chỉ xuất phát từ yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới mà còn dựa trên nền tảng pháp lý đã từng bước được hoàn thiện qua Luật Sở hữu trí tuệ, Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp..., tạo hành lang để tài sản trí tuệ được xác lập, bảo hộ và thương mại hóa, trở thành động lực của đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế.
Theo Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ 2005 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009, 2019, 2022, 2025), quyền sở hữu trí tuệ gồm ba nhóm quyền cơ bản.
Nhóm thứ nhất là quyền tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả. Trong đó, đối tượng của quyền tác giả bao gồm các tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học. Đối tượng của quyền liên quan bao gồm cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng, tín hiệu cáp mang chương trình được mã hóa, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hóa.
Cơ chế xác lập của nhóm quyền này mang tính tự động, phát sinh ngay khi tác phẩm được định hình dưới một hình thức vật chất nhất định căn cứ theo khoản 1 điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ 2005. Quy định này không bắt buộc tác giả phải thực hiện thủ tục đăng ký, qua đó tạo hành lang pháp lý linh hoạt nhằm khuyến khích tối đa các hoạt động tự do sáng tạo văn hóa, nghệ thuật.
Nhóm thứ hai là quyền sở hữu công nghiệp. Luật quy định rõ các đối tượng thuộc nhóm này bao gồm sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý. Khác với quyền tác giả, phần lớn quyền sở hữu công nghiệp (như sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng) yêu cầu phải trải qua thủ tục thẩm định và đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để được cấp văn bằng bảo hộ. Sự chặt chẽ này nhằm xác lập tính độc quyền minh bạch, bảo vệ các giải pháp kỹ thuật và dấu hiệu thương mại, tạo lợi thế cạnh tranh cốt lõi cho doanh nghiệp trên thị trường.
Nhóm thứ ba là quyền đối với giống cây trồng. Đối tượng được bảo hộ của nhóm quyền này là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch. Nhóm quyền này được thiết kế chuyên biệt để bảo vệ thành quả nghiên cứu, lai tạo trong lĩnh vực nông nghiệp. Việc cấp bằng bảo hộ đòi hỏi giống cây trồng phải đáp ứng các tiêu chí khắt khe về tính mới, tính khác biệt, tính đồng nhất và tính ổn định, qua đó thúc đẩy việc đầu tư nghiên cứu và ứng dụng khoa học vào sản xuất nông nghiệp
Mỗi nhóm quyền nêu trên có cơ chế bảo hộ, thời hạn và điều kiện xác lập khác nhau, nhưng tựu trung lại đều hướng tới việc ghi nhận và bảo vệ thành quả từ lao động trí tuệ của con người.
Cùng với Luật Sở hữu trí tuệ, các quy định tại Bộ luật Dân sự và Luật Doanh nghiệp đã tạo ra hành lang pháp lý hoàn chỉnh để thương mại hóa chất xám, cho phép cá nhân và tổ chức tự tin đưa tài sản trí tuệ vào kinh doanh, đầu tư hợp pháp.
Theo đó, Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015 quy định tài sản được phân loại bao gồm: vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản và Điều 115 Bộ luật Dân sự quy định quyền tài sản là quyền trị giá được bằng tiền, trong đó có quyền tài sản đối với đối tượng quyền sở hữu trí tuệ.
Cùng với đó, tại Điều 34 Luật Doanh nghiệp Luật số 59/2020/QH14, quyền sở hữu trí tuệ được xác định là một loại tài sản hợp pháp và có thể sử dụng để góp vốn vào doanh nghiệp.
Từ bản chất pháp lý nêu trên, có thể thấy rõ cơ sở thực tiễn để Kết luận số 51-KL/TW xác định quyền sở hữu trí tuệ là "nguồn lực chiến lược của quốc gia". Việc pháp luật công nhận và tạo lập hành lang để thương mại hóa các tài sản vô hình chính là đòn bẩy trực tiếp thúc đẩy hoạt động đổi mới sáng tạo. Khi các cá nhân, doanh nghiệp có thể tạo ra giá trị kinh tế từ các sáng chế, nhãn hiệu hay quyền tác giả, họ sẽ có động lực và nguồn vốn để tiếp tục tái đầu tư, từ đó không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh cốt lõi trên thị trường.
Sự lớn mạnh của các doanh nghiệp dựa trên nền tảng đổi mới sáng tạo sẽ cấu thành nên năng lực cạnh tranh tổng thể của cả nền kinh tế. Qua đó, việc bảo hộ và khai thác hiệu quả quyền sở hữu trí tuệ không chỉ dừng lại ở việc bảo vệ quyền lợi cá nhân, mà còn là yếu tố cốt lõi để Việt Nam tự chủ chiến lược và cạnh tranh thương mại quốc tế, góp phần bảo vệ an ninh và nâng cao vị thế quốc gia đúng như mục tiêu đã đặt ra tại kết luận số 51-KL/TW của Bộ Chính trị.











