Sắc mầu biến hóa của những người 'phụng công, thủ pháp'

Có điều kiện làm việc, chia sẻ với nhiều chấp hành viên Thi hành án dân sự dọc miền đất nước mới thấy, không chỉ hoàn thành tốt trọng trách người 'giữ lửa' công lý, 'phụng công, thủ pháp', giúp cho các bản án được thực thi, họ còn hóa thân tài tình trong nhiều 'vai' khác nhau trên hành trình làm nghề nhiều áp lực.

Nhiều chấp hành viên Thi hành án dân sự luôn nỗ lực cao nhất hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Nhiều chấp hành viên Thi hành án dân sự luôn nỗ lực cao nhất hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Họ có thể là một cán bộ dân vận thấu tình đạt lý, người am hiểu văn hóa, nhất là văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số, thậm chí đôi khi còn là người đàm phán nhanh nhạy, hỗ trợ người phải thi hành án vơi bớt khó khăn... Để có được điều đó, các chấp hành viên phải thực sự yêu nghề, lặng lẽ cống hiến cả tuổi xuân cho ngành thi hành án dân sự với mục tiêu “để cho người dân không những chấp hành pháp luật mà còn thấy tình người”.

Vượt gió, thắng mưa để vận động thi hành án thành công

Theo Bản án số 66/2024/DS-ST ngày 12/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa, ông Huỳnh Văn Khiêm cư ngụ tại thôn Bình Hưng, xã Cam Bình, Thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa (nay là thôn Bình Hưng, xã Nam Cam Ranh) phải trả cho nguyên đơn ông Phan Kiều Duy, bà Phù Thị Ngọc Trân số tiền theo hợp đồng vay là hơn 73 triệu đồng và lãi phát sinh với lãi suất 1,8%/tháng tính trên số tiền gốc còn nợ tính từ ngày 13/9/2024 đến khi trả hết nợ. Ông Huỳnh Văn Khiêm còn phải trả cho nguyên đơn ông Duy, bà Trân nhà bè mang tên “Chí Kiên” neo đậu trên mặt nước tại thôn Bình Hưng, xã Cam Bình, thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa.

Nhà bè phải thi hành án theo bản án.

Nhà bè phải thi hành án theo bản án.

Tuy nhiên, hết thời gian tự nguyện, ông Khiêm vẫn một mực không chịu thi hành bản án mà vẫn tiếp tục quản lý, sử dụng nhà bè. Sau nhiều lần chấp hành viên Lê Thị Như Hoa phải tiếp cận từ xa, ông Khiêm vẫn luôn có thái độ chống đối quyết liệt, buông lời xúc phạm, thách thức việc thi hành án, quyết không cho ai lên bè để xác minh thi hành án.

Đường đi thi hành án không hề đơn giản. Mỗi lần đến địa điểm phải thi hành án, từ đất liền đến nhà bè, chị Hoa phải di chuyển bằng phương tiện đường thủy như ghe, tàu cá hoặc ca-nô.

“Đi lại vất vả nhưng cứ đưa bất cứ thông báo nào là ông ấy cũng cầm xé hết, ném luôn xuống biển. Có những ngày đi vận động, phối hợp các lực lượng để lên kế hoạch cưỡng chế, lúc quay về gặp trời mưa, anh chủ bè bảo giờ đi đường bộ hay đường biển. Tôi bảo thôi đi đường vào về đường đấy, đi ngược về gặp đúng lúc mưa to, sóng lớn, tưởng đâu chết rồi đó chứ”, chị Hoa kể lại.

Tuy nhiên, sóng gió ngày biển động cũng không làm nao núng ý chí của nữ chấp hành viên gan dạ. Với chị, những thất thường của thiên nhiên đôi khi không khó bằng lòng người.

Mặc dù đã lên kế hoạch cưỡng chế nhưng chị Hoa và các đồng nghiệp của mình vẫn kiên trì thuyết phục, vận động đối tượng “khó nhằn”, không hợp tác này, và cuối cùng kế hoạch cưỡng chế đã không cần phải thực hiện, ông Khiêm đã thả bè buông trôi, trả lại cho người được thi hành án.

Các chấp hành viên làm việc tại nhà bè Chí Kiên.

Các chấp hành viên làm việc tại nhà bè Chí Kiên.

Người tính lại phép chia trong nhiều gia đình

Bản án của tòa án là căn cứ pháp lý mà các chấp hành viên phải thực hiện, nhưng với các chấp hành viên, kể cả những người cứng cỏi, mạnh mẽ nhiều năm trong nghề, sự đau xót luôn trào dâng khi phải đảm nhiệm việc “chia cắt” tình thân của những đứa trẻ vô tội.

Với ông Nguyễn Trọng Đại, Chấp hành viên Thi hành án dân sự tỉnh Khánh Hòa, thi hành bản án giao con là một việc rất khó bởi đấy không đơn thuần chỉ là phép chia những đứa trẻ theo bản án đã được tuyên, đứa theo cha, đứa theo mẹ mà còn là sự cắt lìa tình thân gia đình giữa họ.

Cái khó ở đây là làm sao cân bằng, hài hòa, tìm được phương pháp để vừa thi hành xong bản án, vừa làm dịu nỗi đau con trẻ, thậm chí hàn gắn vết nứt tình cảm vợ chồng, gắn kết lại tình thân gia đình. Vì thế trong mỗi bản án được giao, anh Đại luôn cố gắng tìm những cách làm phù hợp với mỗi hoàn cảnh.

“Có một vụ tôi phải thi hành án bàn giao con. Theo bản án là mỗi người nuôi một đứa nhưng người chồng sau ly hôn vẫn nuôi cả hai, người vợ bỏ đi biệt tích, ba năm sau quay về đòi nuôi con. Tôi dặn người chồng cứ dẫn cả hai con lên trụ sở thi hành án dân sự, rồi mời vợ lên để giao con thay vì chỉ mang một bé. Hai đứa trẻ hằng ngày quấn quýt chơi với nhau, nay lên đây cũng tha thẩn chơi cùng. Khi tôi bảo người vợ ra dẫn một trong hai trẻ về, một đứa còn lại sẽ theo cha. Bị mẹ tách ra, hai đứa bé cứ ôm nhau khóc miết, không chịu buông tay nhau. Chúng cùng được bố nuôi lớn, sao mà tách ra cho được. Tiếng khóc thơ trẻ cùng ánh mắt buồn đau, thất vọng như xoáy thẳng tâm can người mẹ, khiến chị đành buông tay, giao cả hai con cho chồng”, anh Đại kể lại.

Một thời gian sau, anh nghe nói hai vợ chồng gia đình họ đã hàn gắn trở lại. Dường như hạnh phúc dù mong manh của một mái ấm cũng thắp thêm ngọn lửa niềm tin trong hành trình làm nghề của chấp hành viên Nguyễn Trọng Đại.

Thực tế, việc thực hiện phép chia trong bản án ly hôn không phải bao giờ cũng “xuôi chèo, mát mái”. Với chấp hành viên Lộ Phú Vinh, Phó Trưởng phòng Thi hành án dân sự Khu vực 7 tỉnh Khánh Hòa, người đàn ông mạnh mẽ luôn sẵn sàng đương đầu với các vụ cưỡng chế nhà đất, tài sản đầy khó khăn nhưng lại rất “ngại” án giao con sau ly hôn vì “ngay cả bản thân mình nếu nuôi đứa trẻ mấy năm trời nay phải giao đi thật quá đau xót”.

Với nhiều chấp hành viên, thi hành án các con tàu 67 là sự nỗ lực rất lớn.

Với nhiều chấp hành viên, thi hành án các con tàu 67 là sự nỗ lực rất lớn.

Anh Vinh chia sẻ, có vụ bàn giao con ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận trước đây, dù đã ký kết các văn bản đầy đủ sau gần tám tháng lặn lội xuống gặp Hội Liên hiệp Phụ nữ xã, vào nhà vận động người cha và ông bà nội bàn giao con cho mẹ, nhưng người cha vẫn quay ngoắt ẵm con về nhà mình. Đó là sự dứt lòng không đặng của tình cha con sớm tối bên nhau mỗi ngày.

“Ký nhận xong hết, tôi đã nói với hai bên việc bàn giao đã xong nha. Đứa nhỏ được người chị của mẹ bế mà nó khóc quá trời luôn vì đâu biết mẹ là ai, cha ẵm nó đi nuôi từ mấy tháng tuổi mà giờ mẹ và người khác bế cháu nhất quyết không chịu theo, chạy theo luôn với ba. Hai ba con bồng nhau về”.

Điều bất ngờ hơn là vài ngày sau buổi bàn giao, ông Vinh nhận được lá đơn tố cáo ông “không hoàn thành chức trách, nhiệm vụ”. Việc này khiến ông buộc phải hướng dẫn người làm đơn tố cáo mình sang công an huyện nhờ hỗ trợ. Khi công an vào cuộc, người cha sợ bị vạ tội “bắt cóc” lại ẵm con về trụ sở công an lập biên bản. Vụ “tai nạn” nghề nghiệp này khiến anh Vinh càng thấy thấm thía sự chia cắt trong tình cảm gia đình. Anh hiểu mỗi bản án giao con cần có sự chia sẻ, thấu tình đạt lý từ chính mỗi người trong cuộc chứ không chỉ đơn thuần thực thi xong, đóng án lại.

Tuyên truyền viên pháp luật, chuyên gia đàm phán khi thi hành án những con tàu 67

Với nhiều chấp hành viên tại Gia Lai, Khánh Hòa, việc thi hành án liên quan các con tàu được đóng theo Nghị định 67/2014/NĐ-CP không hiếm gặp vì mảnh đất Quy Nhơn (Bình Định cũ) - vùng đất có rất nhiều người ra khơi bám biển mưu sinh vay tiền đóng tàu. Mục tiêu của Nghị định 67 là nhằm phát triển thủy sản hướng tới giúp ngư dân hiện đại hóa đội tàu đánh bắt xa bờ, bảo vệ chủ quyền biển đảo. Tuy nhiên, không ít những chủ tàu vỏ thép 67 giàu kinh nghiệm, giỏi nghề biển nhưng khi vận hành tàu vỏ thép không hiệu quả đã vỡ nợ.

"Tôi mất hết rồi, không còn gì nữa". "Vốn vay quá lớn, chưa tính tiền lãi, quá lớn". Đó là những tiếng kêu trong nỗi buồn của nhiều chủ tàu bị nợ quá hạn, bị kiện ra tòa, phải thi hành án bán thu hồi tài sản. Đa số áp lực với người phải thi hành án là nợ ngân hàng lớn vì khi vay toàn tầm 15-20 tỷ đồng/ tàu nhưng khi thi hành án bán thu hồi chỉ còn được khoảng 10% số vay ban đầu. Và đương nhiên đây là nhiệm vụ của các chấp hành viên phải thực hiện.

Điều khó khăn với các chấp hành viên trong các bản án này chính là khi thi hành mà người được thi hành không còn gì trong tay, việc tiếp cận người phải thi hành án cũng khó do lịch đi biển của họ có thể kéo dài hằng tháng, nhất là sự không đồng thuận chấp hành bản án. Chấp hành viên Nguyễn Trọng Tài, Trưởng phòng Thi hành án dân sự Khu vực 1 tỉnh Gia Lai cho biết: “Tàu đánh bắt xa bờ thường neo xa nên chúng tôi phải phối hợp biên phòng cửa khẩu, cảng vụ để đi ca-nô tăng bo từ ghe đánh cá nhỏ ra tàu để tiếp cận, xác minh. Mà từ ghe leo được lên tàu cũng là cả một vấn đề, nhất là các chấp hành viên nữ. Mãi mới lên được tàu, xác minh điều kiện thi hành xong, đến lúc áp dụng các biện pháp kê biên mới phát hiện tài sản thế chấp để vay… không còn”.

Với người dân cả đời chỉ biết vươn khơi bám biển, không có tàu cuộc sống mưu sinh trở nên khó khăn. Đa số trường hợp giá trị tài sản bảo đảm (tàu cá) giảm sút nghiêm trọng theo thời gian, dẫn đến việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ nghĩa vụ thi hành án. Cơ quan thi hành án dân sự phải xử lý các tài sản khác của người phải thi hành án (nhiều trường hợp là nhà ở duy nhất), dẫn đến họ và gia đình không còn nơi ở, không còn công cụ, phương tiện để ra khơi hoặc sản xuất kinh doanh dựa vào biển. Điều này đi ngược với chính sách hỗ trợ của Nhà nước, gây bức xúc và chống đối của người phải thi hành án, khó khăn cho quản lý công dân của địa phương.

Không ít con tàu 67 đã phải dừng sứ mệnh vươn khơi vì nhiều lý do.

Không ít con tàu 67 đã phải dừng sứ mệnh vươn khơi vì nhiều lý do.

Vì thế, trong khi thi hành án, bên cạnh các quy trình nghiệp vụ, các chấp hành viên phải tích cực phối hợp tuyên truyền cho bà con hiểu thêm về các quy định pháp luật, chính sách của Nhà nước có liên quan, để họ hiểu, đồng thuận thi hành án. Cùng với đó, các chấp hành viên còn phối hợp chặt chẽ với ngân hàng, tổ chức tín dụng trong việc xác minh tài sản bảo đảm; cố gắng thuyết phục họ tạo điều kiện hỗ trợ miễn giảm, giãn số nợ (gốc, lãi) đối với các khoản nợ còn lại sau khi bán tài sản thế chấp không đủ trả nợ giúp bà con..nhờ đó nhiều vụ thi hành án diễn ra thuận lợi.

Nói thì dễ nhưng quá trình thi hành án liên quan các con tàu 67 cũng như phần dân sự của các bản án khác là một hành trình dài không chỉ vì thủ tục mà còn vì quá trình giúp dân hiểu, dân tin, dân làm theo. Còn nhiều lắm những câu chuyện của những người chấp hành viên chưa từng được nhắc đến vì với họ đơn thuần chỉ là công việc. Khó khăn nào rồi cũng sẽ vượt qua, mỗi bản án khép lại là một lần hành trang của những người chấp hành viên lại dày thêm không chỉ bởi từng cung bậc cảm xúc mà còn bởi tình yêu thương, sự tin tưởng của chính những người phải chấp hành án. Công lý không vô cảm vì còn có những trái tim sẻ chia.

HƯƠNG NGUYÊN

Nguồn Nhân Dân: https://nhandan.vn/sac-mau-bien-hoa-cua-nhung-nguoi-phung-cong-thu-phap-post971060.html