Sản xuất và tiêu dùng bền vững: Biến vỏ sầu riêng thành hàng xuất khẩu
Từ nguồn phụ phẩm bỏ đi sau mỗi mùa thu hoạch sầu riêng, Hợp tác xã Nông nghiệp xuất nhập khẩu 001 Ea Knuếc đã phát triển ra sản phẩm than sinh học, hướng đến xuất khẩu.
Ngày 24/6/2020, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 889/QĐ-TTg phê duyệt Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 - 2030. Chương trình hướng đến khai thác, sử dụng tiết kiệm, hiệu quả tài nguyên và nhiên liệu; giảm thiểu chất thải; thúc đẩy sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn và phát triển các sản phẩm thân thiện với môi trường. Hưởng ứng chương trình đó, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã đã chủ động nghiên cứu, biến rác thải thành tiền và hướng đến thị trường xuất khẩu.
Điển hình trong số đó là Hợp tác xã Nông nghiệp Xuất nhập khẩu 001 Ea Knuếc (Đắk Lắk), đã nghiên cứu sản xuất than sinh học và than viên nén từ vỏ sầu riêng. Sản phẩm không chỉ góp phần giảm áp lực lên môi trường mà còn mở ra hướng sản xuất, tiêu dùng bền vững và tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp, người dân. Phóng viên Báo Công Thương đã có cuộc trao đổi với bà Nguyễn Thị Hường - Giám đốc Hợp tác xã để hiểu rõ hơn về quy trình sản xuất than sinh học.

Bà Nguyễn Thị Hường - Giám đốc Hợp tác xã Nông nghiệp Xuất nhập khẩu 001 Ea Knuếc (Đắk Lắk).
Khép kín chuỗi giá trị sầu riêng
- Bà có thể chia sẻ về quy trình sản xuất than từ vỏ sầu riêng?
Bà Nguyễn Thị Hường: Hiện nay, chúng tôi đang sản xuất theo mô hình thử nghiệm. Vỏ sầu riêng được đưa vào lò biochar để đốt thành than. Quá trình đốt kéo dài khoảng 6 giờ. Sau khi ra lò, than được để nguội, sau đó nghiền và đưa vào máy ép thành viên.
Tùy mục đích sử dụng, sản phẩm có thể được giữ ở dạng bột hoặc ép thành viên nén. Nếu ở dạng bột, than có thể được sử dụng làm phân bón cho cây trồng. Khi được ép thành viên, sản phẩm có thể dùng làm nhiên liệu sưởi ấm hoặc phục vụ nướng thực phẩm, trong đó có nướng BBQ.
Do than được ép chặt nên có nhiệt lượng cao, thời gian cháy lâu, lâu tàn và hạn chế khói. Đây là một trong những đặc điểm phù hợp với nhu cầu sử dụng nhiên liệu sưởi ấm và nướng thực phẩm tại một số thị trường nước ngoài.
- Trước đây, vỏ sầu riêng chủ yếu được xem là phế phẩm. Điều gì khiến bà nghĩ đến việc nghiên cứu sản phẩm này theo hướng sản xuất tuần hoàn?
Bà Nguyễn Thị Hường: Tôi sinh ra và lớn lên tại Đắk Lắk, có khoảng 23 năm gắn bó với cây sầu riêng. Vì vậy, tôi luôn suy nghĩ rằng, muốn phát triển bền vững ngành hàng sầu riêng thì phải hình thành được một chu trình tuần hoàn, khép kín.
Chu trình đó không chỉ dừng lại ở việc trồng, thu hoạch và xuất khẩu trái tươi mà còn phải bao gồm chế biến, sấy, sản xuất các sản phẩm giá trị gia tăng và tận dụng phần phụ phẩm cuối cùng là vỏ sầu riêng.
Vỏ sầu riêng luôn là một vấn đề lớn đối với người dân và doanh nghiệp vào mùa thu hoạch. Số lượng vỏ phát sinh rất nhiều, trong khi phần lớn chưa được tận dụng hiệu quả. Nếu không có phương án xử lý phù hợp, loại phụ phẩm này vừa gây áp lực lên môi trường, vừa tạo ra sự lãng phí tài nguyên.
Từ thực tế đó, tôi nhìn thấy cơ hội biến phụ phẩm thành sản phẩm có giá trị. Nói một cách dễ hiểu, đây là cơ hội tạo ra tiền từ nguồn nguyên liệu vốn bị bỏ đi. Tôi đã dành khoảng hai năm để tìm hiểu, nghiên cứu và thử nghiệm sản phẩm.
- Công nghệ sản xuất than sinh học này được hợp tác xã nghiên cứu như thế nào để vừa tạo ra sản phẩm mới, vừa hạn chế tác động đến môi trường?
Bà Nguyễn Thị Hường: Tôi học hỏi kinh nghiệm từ những người đi trước và tìm hiểu các mô hình sản xuất biochar trên thế giới. Biochar không phải là sản phẩm hoàn toàn mới, bởi nhiều nơi đã nghiên cứu và ứng dụng công nghệ này từ lâu.
Tuy nhiên, điều quan trọng là phải nghiên cứu để công nghệ phù hợp với nguyên liệu vỏ sầu riêng và điều kiện sản xuất thực tế của doanh nghiệp. Chúng tôi đang từng bước hoàn thiện quy trình từ khâu xử lý nguyên liệu, đốt thành than đến nghiền và ép viên.
Một trong những ưu điểm mà chúng tôi hướng đến là sản phẩm khi sử dụng hạn chế phát sinh khói, qua đó giảm ảnh hưởng tới môi trường và người sử dụng. Cũng giống như khi đầu tư công nghệ sấy thăng hoa, mục tiêu của chúng tôi là vừa tạo ra sản phẩm có chất lượng, vừa hạn chế những tác động không cần thiết trong quá trình sản xuất.

Chị Nguyễn Thị Hường giới thiệu sản phẩm than sinh học làm từ vỏ sầu riêng tại sự kiện ra mắt đại sứ truyền thông Lễ hội Sầu riêng Đắk Lắk 2026.
- Sản phẩm hiện đã được thương mại hóa hay chưa, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Hường: Hiện nay, sản phẩm vẫn đang ở mô hình thử nghiệm. Tuy nhiên, chúng tôi đã nhận được sự quan tâm của một số đối tác nước ngoài, trong đó có đối tác tại châu Âu đặt vấn đề về sản lượng lớn.
Thị trường châu Âu có nhu cầu sử dụng loại than này để sưởi ấm trong mùa đông và làm nhiên liệu nướng BBQ. Vì vậy, nếu hoàn thiện được nhà máy và đáp ứng yêu cầu về sản lượng, chất lượng, chúng tôi hướng đến mục tiêu xuất khẩu sản phẩm.
Hiện tôi đang đề xuất được Nhà nước cho thuê đất để xây dựng một nhà máy có quy mô lớn hơn. Khi có mặt bằng và điều kiện đầu tư phù hợp, doanh nghiệp mới có thể tổ chức sản xuất ổn định, đáp ứng các đơn hàng với sản lượng lớn.
Mở hướng xuất khẩu từ phụ phẩm
- Bà kỳ vọng sản phẩm than từ vỏ sầu riêng sẽ đóng góp như thế nào vào mục tiêu sản xuất và tiêu dùng bền vững?
Bà Nguyễn Thị Hường: Mong muốn đầu tiên của tôi là giảm tác động của phụ phẩm sầu riêng đối với môi trường. Thay vì bị vứt bỏ, vỏ sầu riêng được thu gom và chuyển thành sản phẩm hữu ích.
Thứ hai, việc tận dụng phụ phẩm có thể tạo thêm nguồn thu cho doanh nghiệp và người dân, góp phần hình thành chuỗi sản xuất tuần hoàn. Khi toàn bộ quả sầu riêng được khai thác hiệu quả, từ phần thịt quả đến vỏ, giá trị của ngành hàng cũng sẽ được nâng lên.
Trong tương lai, nếu doanh nghiệp phát triển tốt, tôi mong muốn đầu tư một phòng nghiên cứu để tiếp tục tạo ra nhiều sản phẩm mới từ vỏ sầu riêng. Hiện chúng tôi cũng đang nghiên cứu sản xuất vật liệu giống như gạch từ loại phụ phẩm này, nhưng sản phẩm vẫn chưa hoàn thiện.
Bên cạnh vỏ sầu riêng, công nghệ sản xuất than sinh học còn có thể được nghiên cứu áp dụng đối với nhiều loại phụ phẩm nông nghiệp khác như vỏ cà phê, bã mía và một số nguồn nguyên liệu sẵn có tại địa phương. Đây là hướng đi có thể mở rộng, bởi Đắk Lắk có nguồn phụ phẩm nông nghiệp khá phong phú.
Nếu được phát triển ở quy mô phù hợp, mô hình này không chỉ giúp giảm lượng phụ phẩm phải xử lý mà còn góp phần sử dụng tiết kiệm tài nguyên, tạo ra sản phẩm phục vụ nhu cầu tiêu dùng và nâng cao giá trị của sản xuất nông nghiệp.
- Ngoài than sinh học, Hợp tác xã hiện có những sản phẩm nào từ sầu riêng, thưa bà?
Bà Nguyễn Thị Hường: Trước khi nghiên cứu sản phẩm từ vỏ, chúng tôi đã phát triển nhiều sản phẩm chế biến từ phần thịt quả sầu riêng. Hiện Hợp tác xã vẫn duy trì các sản phẩm như sầu riêng sấy thăng hoa, bột sầu riêng, kẹo dẻo sầu riêng, kem mochi sầu riêng, bánh sầu riêng và cà phê sầu riêng.
Đối với cà phê sầu riêng, thay vì sử dụng hương liệu như một số sản phẩm thông thường, chúng tôi sử dụng bột sầu riêng sấy thăng hoa. Việc sử dụng nguyên liệu thật khiến quá trình bảo quản khó khăn hơn, nhưng đây là hướng sản xuất chúng tôi lựa chọn nhằm nâng cao chất lượng và giá trị của sản phẩm.
Các sản phẩm hiện đã được phân phối trên hệ thống bán hàng toàn quốc, phục vụ thị trường quà tặng và từng bước tiếp cận thị trường Trung Quốc. Mục tiêu lâu dài của chúng tôi vẫn là đẩy mạnh xuất khẩu.
- Xin cảm ơn bà!
Quyết định số 889/QĐ-TTg xác định sản xuất sạch hơn, kinh tế tuần hoàn và phát triển sản phẩm thân thiện với môi trường là trọng tâm của Chương trình hành động quốc gia về sản xuất và tiêu dùng bền vững giai đoạn 2021 - 2030. Mô hình sản xuất than sinh học từ vỏ sầu riêng góp phần cụ thể hóa mục tiêu này, đồng thời giảm chất thải và nâng cao giá trị nông sản.












