Sắp xếp mạng lưới giáo dục: Giảm đầu mối, tăng hiệu quả
Theo báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 6/8, sau khi sắp xếp mạng lưới, tổng số cơ sở giáo dục công lập dự kiến giảm từ 37.138 xuống 19.785, tức giảm 17.353 đầu mối, tương ứng 46,7%. Trong 34 tỉnh, thành, có tới 23 địa phương dự kiến giảm từ 45% đầu mối trở lên.
Với quy mô như vậy, điều cần quan tâm chính là việc hệ thống sẽ thay đổi ra sao sau đó. Bởi sắp xếp mạng lưới cơ sở giáo dục không đơn thuần là nhập trường hay thu gọn bộ máy, mà hướng tới tổ chức lại đội ngũ, cơ sở vật chất và nguồn lực đầu tư theo hướng hiệu quả hơn, đồng thời khắc phục những bất hợp lý của mạng lưới hiện nay. Vì thế, hiệu quả của chủ trương cần được đánh giá bằng chất lượng vận hành sau sắp xếp và những chuyển biến thực chất trong dạy và học.
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Hoàng Minh Sơn từng khẳng định, việc sắp xếp cơ sở giáo dục không chỉ nhằm giảm đầu mối mà phải hướng tới xây dựng một hệ thống tinh gọn hơn, mạnh hơn và nâng cao chất lượng giáo dục. Từ yêu cầu đó có thể thấy, tỷ lệ giảm đầu mối chỉ là một chỉ báo của quá trình tái cấu trúc, không phải là thước đo duy nhất để đánh giá hiệu quả sắp xếp.
Thực tế, mức giảm đầu mối giữa các địa phương có sự khác biệt khá lớn. Theo phương án dự kiến, có 10 địa phương giảm trên 50% số đầu mối. Tuy nhiên, Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết sự khác biệt này phản ánh đặc điểm mạng lưới trường học, quy mô dân số, điều kiện địa lý và phạm vi cơ sở giáo dục được đưa vào phương án sắp xếp; không đồng nghĩa địa phương giảm ít hơn là triển khai chậm hoặc kém hiệu quả hơn.
Cách tiếp cận này xuất phát từ thực tế trường học không chỉ là một đầu mối quản lý mà còn gắn với khoảng cách đến trường, quy mô dân cư, điều kiện giao thông và khả năng tiếp cận giáo dục của người học. Vì vậy, việc sắp xếp cần tính đến đặc thù của từng địa phương. Chẳng hạn, một xã miền núi với dân cư phân tán khó có thể áp dụng cùng phương án tổ chức mạng lưới trường học như một phường nội đô. Nếu chỉ đặt mục tiêu giảm đầu mối theo một tỷ lệ chung, việc tinh gọn bộ máy có thể ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận giáo dục và điều kiện học tập của người dân.

Chất lượng giáo dục quyết định thành công của việc sắp xếp hệ thống trường
TS. Vũ Minh Đức, Cục trưởng Cục Nhà giáo và Cán bộ quản lý giáo dục (Bộ Giáo dục và Đào tạo) nhìn nhận cuộc sắp xếp phải gắn với thay đổi mô hình quản trị, tăng quyền tự chủ, trách nhiệm giải trình và tối ưu hóa đội ngũ. Chính góc nhìn này cho thấy giá trị của việc sắp xếp nằm ở khả năng những nguồn lực vốn phân tán có được tổ chức lại hiệu quả hơn hay không.
Theo các chuyên gia giáo dục, một trường có nhiều điểm trường phải có cơ chế phân quyền rõ ràng, người phụ trách từng điểm phải biết mình chịu trách nhiệm đến đâu, chuyên môn giữa các cơ sở phải được liên thông, dữ liệu, tài chính, tài sản và nhân sự phải quản lý thống nhất. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đặt yêu cầu mô hình mới phải có một pháp nhân, một hệ thống quản trị và trách nhiệm giải trình, đồng thời phân công rõ người phụ trách tại từng phân hiệu, điểm trường.
Ở giáo dục đại học, bài toán cũng tương tự nhưng ở quy mô khác. Các trường nhỏ, hoạt động kém hiệu quả hoặc nguồn lực phân tán cần được xem xét tổ chức lại; song không phải cứ ghép hai cơ sở là tạo thành một trường mạnh. Khả năng bổ trợ về chuyên môn, đội ngũ, nghiên cứu, cơ sở vật chất và văn hóa tổ chức mới quyết định giá trị của việc hợp nhất. Bộ trưởng Hoàng Minh Sơn cũng nhấn mạnh tiêu chí cuối cùng là cơ sở mới phải mạnh hơn, quản trị tốt hơn và chất lượng đào tạo, nghiên cứu cao hơn; không được lắp ghép cơ học chỉ để đạt chỉ tiêu giảm đầu mối.
Một phương án sắp xếp tốt không nằm ở tỷ lệ giảm đầu mối, mà ở khả năng khắc phục những bất hợp lý của mạng lưới cũ mà vẫn bảo đảm quyền tiếp cận và chất lượng giáo dục. Vì vậy, hiệu quả sau sắp xếp cần được đo bằng việc giáo viên, cơ sở vật chất và nguồn lực có được phân bổ tốt hơn, bộ máy mới có vận hành hiệu quả và người học có thực sự được hưởng lợi hay không.
Con số giảm 46,7% cho thấy quy mô lớn của cuộc sắp xếp, nhưng thành công không thể chỉ đo bằng số đầu mối được cắt giảm. Điều quan trọng hơn là sau sắp xếp, nguồn lực có được sử dụng hiệu quả hơn, bộ máy có vận hành tốt hơn và chất lượng giáo dục có thực sự được nâng lên hay không.











