Sáu hiểu nhầm của doanh nghiệp trong thực thi Cơ chế CBAM
Không ít doanh nghiệp Việt Nam hiện vẫn đang có cách hiểu chưa đúng về quy định và yêu cầu của CBAM trong quá trình thực thi. Những hiểu nhầm này có thể sẽ dẫn đến nhiều hệ lụy, ảnh hưởng tới doanh nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường châu Âu...

CBAM là một cơ chế quy định yêu cầu mới nên nhiều doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn, thách thức khi thực thi. Ảnh minh họa
Từ năm 2026, Cơ chế CBAM bước vào giai đoạn vận hành chính thức. Theo quy định, các nhà nhập khẩu ở 6 nhóm mặt hàng trọng yếu, bao gồm: thép, nhôm, xi măng, phân bón, điện và hydro bắt buộc phải tuân thủ quy định mới. CBAM đang dần trở thành yêu cầu bắt buộc.
Đến năm 2027, tất cả các doanh nghiệp có mã phải khai báo theo quy định của CBAM sẽ phải thực hiện nghĩa vụ. Do đó, các chuyên gia cho rằng nếu các doanh nghiệp không có sự chuẩn bị sớm ngay từ bây giờ để đáp ứng các yêu cầu, trong đó có nhiều yêu cầu đã và đang được sửa đổi và cập nhật, đặt ra áp lực cho doanh nghiệp.
Trao đổi tại sự kiện với chủ đề “Áp lực CBAM 2027 – Doanh nghiệp cần làm gì từ hôm nay?”, do GREEN IN tổ chức ngày 27/5, các chuyên gia đã cung cấp thông tin, trao đổi về Cơ chế CBAM, kỹ thuật khai báo phát thải, các yêu cầu cụ thể cũng như những khó khăn trong quá trình triển khai. Đáng chú ý, các chuyên gia cũng chỉ ra những hiểu nhầm hiện nay về cơ chế CBAM giúp doanh nghiệp thực hiện đúng, tránh những rủi ro, đáp ứng yêu cầu ngày càng khắt khe này của thị trường.
CƠ CHẾ CBAM VÀ NHỮNG DOANH NGHIỆP CHỊU TÁC ĐỘNG
Ông Nguyễn Mạnh Thắng, chuyên gia tư vấn về ESG và kiểm kê khí thải nhận xét việc cơ chế CBAM áp dụng vận hành chính thức được nhìn nhận sẽ tạo nhiều áp lực về mặt chi phí đối với doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp xuất khẩu vào EU. Theo thông tin chính thức thì ngay từ quý 1/2026, EU đã công bố mức giá tham chiếu cho chứng chỉ CBAM hơn 75 Euro cho 1 tấn CO2.
Có thể thấy, đây không chỉ là việc khai báo, tuân thủ nữa mà CBAM sẽ tác động rõ ràng đến chi phí, khả năng xuất khẩu, cạnh tranh của các doanh nghiệp”, ông Thắng nhấn mạnh.
Chuyên gia này cho biết sẽ có 6 loại hàng hóa chính sẽ chịu sự ảnh hưởng của Cơ chế này là sắt thép, hydro, phân bón, điện, xi măng, và nhôm.

Sắt thép, hydro, phân bón, điện, xi măng, và nhôm là các loại hàng hóa chính sẽ chịu sự ảnh hưởng của Cơ chế CBAM. Ảnh minh họa
Ông cũng lưu ý, CBAM không chỉ áp dụng đối với những hàng hóa là nhiên liệu thô xuất sang mà cả các sản phẩm thành phẩm. Ngoài ra, EU cũng đang nghiên cứu để bổ sung thêm các loại hàng hóa phát thải cao vào danh mục hàng hóa chịu thuế của CBAM trong đó có ngành nhựa, giấy, thủy tinh đều đang trong tầm ngắm. Mặc dù các ngành này chưa thuộc danh mục của CBAM nhưng các doanh nghiệp nên theo dõi, cập nhật thông tin.
Thông tin về lộ trình, ông Thắng cho biết từ tháng 10/2023 đến tháng 12/2025 là giai đoạn chuyển tiếp của CBAM. Trong giai đoạn này, các nhà nhập khẩu chỉ cần khai báo thông tin phát thải theo quý. Tuy nhiên, từ đầu năm 2026, là giai đoạn áp dụng chính thức của CBAM, trong đó các doanh nghiệp sẽ bắt buộc phải khai báo thông tin về phát thải. Các thông tin này sẽ được sử dụng làm cơ sở để mua lượng chứng chỉ CBAM tương ứng với lượng phát thải của hàng hóa.
Đáng chú ý, đến 30/9/2027 sẽ là thời hạn khai báo chính thức phát thải lần đầu tiên. Mặc dù mốc thời gian còn hơn 1 năm nữa nhưng đến cái thời hạn này, các nhà nhập khẩu châu Âu sẽ phải khai báo đầy đủ dữ liệu phát thải năm 2026 nên họ sẽ yêu cầu cung cấp cập nhật đầy đủ thông tin trước thời điểm tháng 9/2027. Do đó, ông Thắng cho rằng “các doanh nghiệp Việt Nam thuộc đối tượng chịu tác động sẽ phải chuẩn bị ngay từ bây giờ”.
Tuy nhiên, CBAM cũng có một số cập nhật đáng chú ý như thay đổi về mức loại trừ, với khối lượng nhập khẩu không đáng kể, dưới 50 tấn/năm đối với các hàng hóa thuộc lĩnh vực xi măng, sắt thép, nhôm, phân bón thì sẽ được loại trừ nghĩa vụ.
Chia sẻ với các doanh nghiệp về quá trình thu thập đầy đủ dữ liệu và tính toán 3 loại phát thải trực tiếp tại nhà máy, phát thải gián tiếp và phát thải của nguyên vật liệu đầu vào, ông Thắng cho rằng khi đó các doanh nghiệp sẽ có được dữ liệu phát thải tích hợp cho các loại hàng hóa CBAM. Đi kèm với đó, các doanh nghiệp sẽ phải có các tài liệu để minh chứng tính chính xác của các số liệu cung cấp. Với yêu cầu về cung cấp dữ liệu, chuyên gia khuyến nghị các doanh nghiệp nên chuẩn bị ngay từ bây giờ.
NHỮNG HỆ LỤY KHI DOANH NGHIỆP HIỂU NHẦM VỀ CƠ CHẾ CBAM
Là một cơ chế quy định yêu cầu mới nên nhiều doanh nghiệp vẫn còn gặp khó khăn, thách thức khi thực thi. Qua thực tế trao đổi, các chuyên gia nhận thấy một số khó khăn và những hiểu nhầm của doanh nghiệp về CBAM trong thực hành khai báo kịp thời theo đúng yêu cầu quy định để tránh những rủi ro, đảm bảo đơn hàng được xuất tốt nhất.
Bà Nguyễn Thị Hà, Giám đốc Chương trình NetZero, cho rằng một trong những khó khăn lớn hiện nay đó là sự hiểu nhầm của các doanh nghiệp về về quy định và yêu cầu của CBAM trong quá trình thực hiện.
Thứ nhất, nhiều doanh nghiệp cho rằng CBAM chỉ liên quan đến nhà nhập khẩu của EU hoặc là những nhà xuất khẩu trực tiếp, còn những đơn vị gia công sẽ không bị hưởng.
Chính sự hiểu nhầm này sẽ gây ra những nguy cơ, làm cho doanh nghiệp không cung cấp dữ liệu kịp thời nên sẽ bị nhà nhập khẩu áp giá trị mặc định để tính toán. Điều này có thể dẫn đến việc các doanh nghiệp sẽ phải mua nhiều chứng chỉ CBAM.
Ngoài ra, nếu doanh nghiệp không đáp ứng được thì nhà nhập khẩu có thể sẽ chuyển đơn hàng sang một nhà xuất khẩu khác, ảnh hưởng trực tiếp tới doanh thu cũng như hoạt động sản xuất của doanh nghiệp…
Đây là những tác động, ảnh hưởng lớn nếu các doanh nghiệp hiểu nhầm sẽ không phải khai báo ở trên chuỗi. Bà Hà nhấn mạnh rằng “CBAM thực chất đang trở thành yêu cầu bắt buộc trong chuỗi cung ứng. Do đó các cơ sở, doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng cần phải lưu ý về yêu cầu phải khai báo dữ liệu phát thải để nhà nhập khẩu có số liệu đưa vào cơ sở dữ liệu của EU để chứng minh, đảm bảo nghĩa vụ CBAM được thực hiện đầy đủ, tránh rò rỉ carbon”.
Thứ hai, mặc dù đến ngày 30/9/2027 các doanh nghiệp mới phải khai báo, nhưng điều này không có nghĩa các doanh nghiệp đợi đến lúc đó mới thực hiện. “Nếu doanh nghiệp không chuẩn bị sớm thì sẽ gặp khó khăn, không có dữ liệu để tính toán một cách chính xác nhất. Và khi đó có thể các doanh nghiệp sẽ phải sử dụng dữ liệu mặc định”.
Thứ ba, doanh nghiệp chỉ xem CBAM là yêu cầu thủ mà không phải là cơ hội để cạnh tranh thị trường. Sự hiểu nhầm này sẽ làm doanh nghiệp mất cơ hội cạnh tranh trên thị trường. Nếu thiếu chiến lược để ứng phó và thích ứng phù hợp, doanh nghiệp sẽ chậm hơn đối thủ cạnh tranh trong đáp ứng yêu cầu để xanh hóa của thị trường quốc tế, bỏ lỡ cơ hội tiếp cận tài chính xanh, tiếp cận với các khách hàng mới ở trên thị trường châu Âu.
Thứ tư, hiểu nhầm phổ biến nhất là trong quá trình thực hiện CBAM, rất nhiều doanh nghiệp cho rằng là chỉ cần tính toán phát thải khí nhà kính theo phạm vi 1, 2, 3 là đầy đủ và đáp ứng được yêu cầu khai báo của CBAM. Tuy nhiên thực tế bản chất giữa tính toán phát thải kiểm kê khí nhà kính phạm vi 1, 2, 3 và yêu cầu khai báo CBAM là khác nhau.
Thứ năm, nhiều doanh nghiệp cũng hiểu nhầm khi cho rằng là khai báo phát thải CBAM và ISO 14067 là giống nhau. Trong khi thực tế, ISO 14067 là tính toán phát thải cho sản phẩm, dấu chân carbon của sản phẩm và là tiêu chuẩn tự nguyện. Còn với CBAM yêu cầu bắt buộc cho các mã hàng đã đưa ra với hướng dẫn, tính toán và yêu cầu riêng, hệ số phát thải, tính ứng dụng và phạm vi ranh giới hoàn toàn khác nhau.
Thứ sáu, các doanh nghiệp cho rằng mua tín chỉ năng lượng tái tạo (IREC) là không phải thực hiện nghĩa vụ CBAM. Thực tế yêu cầu, mục tiêu cơ chế CBAM đảm bảo tránh rò rỉ carbon và thực hiện thỏa thuận xanh, về giảm phát thải kính nhà kính. Do vậy, cơ chế này yêu cầu các doanh nghiệp phải giảm phát thải trực tiếp. Do đó, việc doanh nghiệp mua tín chỉ năng lượng tái tạo có thể sẽ không được công nhận là thực hiện nghĩa vụ CBAM.
Nguồn VnEconomy: https://vneconomy.vn/sau-hieu-nham-cua-doanh-nghiep-trong-thuc-thi-co-che-cbam.htm











