Sau một đời người, cha mẹ lại về bên nhau

Có những cuộc đoàn tụ phải đợi đến cuối một đời người. Có những tình yêu dù trải qua bao năm tháng cách xa vẫn không phai nhạt. Và có những ngôi mộ được xây dựng không chỉ bằng đá quý, mà còn bằng lòng biết ơn, nỗi nhớ thương và đạo hiếu của các thế hệ con cháu.

Chủ nhật, ngày 8.11.2026 (tức 30.9 năm Bính Ngọ), gia đình chúng tôi sẽ tổ chức lễ tạ mộ sau khi hoàn thành việc tu sửa phần mộ cha mẹ tại Nghĩa trang Thành phố. Nhìn ngôi mộ mới khang trang, trang nghiêm, lòng tôi vừa vui, vừa nghẹn ngào. Vui vì thực hiện được điều đã ấp ủ từ lâu, nhưng cũng man mác buồn khi những người mình muốn báo hiếu nhất lại không còn để chứng kiến tấm lòng của con cháu.

Cha mẹ tôi đều là người quê lúa Thái Bình. Cuộc đời ông bà gắn với một hoàn cảnh đặc biệt: chồng Bắc, vợ Nam, phải xa nhau suốt 21 năm. Hai mươi mốt năm, đủ dài để thử thách lòng thủy chung, để chứng minh sức bền của tình nghĩa vợ chồng giữa những biến động của thời cuộc. Không được sống bên nhau, không thể cùng chăm sóc con cái, nhưng tình cảm của ông bà vẫn vẹn nguyên.

Hai mươi mốt năm xa cách, một người nuôi con, một người giữ trọn tình chờ đợi

Trong những năm tháng xa vợ, cha tôi một mình nuôi dạy bốn người con. Ông vừa làm cha, vừa thay mẹ chăm sóc các con trưởng thành. Đằng sau vẻ cứng cỏi của người đàn ông ấy là biết bao nhọc nhằn, lo toan và hy sinh thầm lặng, nhất là khi cô con gái út còn quá nhỏ, phải xa mẹ từ thuở bé.

Cha tham gia hoạt động cách mạng, vào Đảng từ năm 1948. Nhưng với chúng tôi, điều đáng nhớ không chỉ là những năm tháng hoạt động cách mạng mà còn là tình yêu thương cha dành cho con qua những việc làm cụ thể.

Tôi không bao giờ quên câu chuyện năm 1966. Hồ sơ đi học đại học của tôi bị trả về địa phương vì lý lịch “không rõ ràng”, do mẹ và nhiều người thân trong gia đình đã đi Nam. Bao nhiêu năm học hành, bao nhiêu ước mơ đứng trước nguy cơ dang dở chỉ vì hoàn cảnh gia đình mà bản thân tôi không thể lựa chọn.

Cha không cam chịu. Ông lên Tỉnh ủy Thái Bình, gặp Bí thư Tỉnh ủy Ngô Duy Đông để trình bày, xác minh sự việc. Cuối cùng, cánh cửa đại học tưởng như đã khép lại được mở ra. Tôi được gọi vào Đại học Bách khoa Hà Nội, khóa 11, khoa Xây dựng, ngành cảng - đường thủy.

Phần mộ cha, mẹ tác giả tại Nghĩa trang Thành phố.

Phần mộ cha, mẹ tác giả tại Nghĩa trang Thành phố.

Nghĩ lại, tôi vẫn thấy mình may mắn. Nếu ngày ấy cha không kiên trì bảo vệ tương lai của con, có lẽ cuộc đời tôi đã rẽ sang một hướng khác. Có những người cha để lại cho con một gia tài, còn cha tôi đã trao cho tôi một cơ hội bước vào đời. Đôi khi, một cơ hội đúng lúc còn quý hơn cả gia tài.

Cha từng mong tôi trở thành kỹ sư, đi theo con đường học vấn. Ngày trẻ, tôi mê bóng bàn và từng có cơ hội theo con đường thể thao chuyên nghiệp, nhưng cha khuyên tôi chọn việc học. Tôi vẫn nhớ chiếc vợt bóng bàn Thiên Tân giá 16 đồng mà cha dành dụm mua cho tôi khi gia đình còn khó khăn. Chiếc vợt ấy đã cùng tôi đến những trận đấu đầu tiên và chức vô địch đơn nam bóng bàn thị xã, tỉnh Thái Bình.

Một chiếc vợt, một lời khuyên, một lần lên Tỉnh ủy bảo vệ tương lai của con... Tất cả đều là những cách cha thể hiện tình yêu. Cha ít nói về tình cảm, nhưng tình yêu của ông hiện diện trong trách nhiệm và những hy sinh lặng lẽ.

Mẹ tôi cũng là một người phụ nữ đặc biệt, vừa giàu đức hy sinh, thủy chung với chồng con, vừa kiên trung trong hoạt động cách mạng. Năm 1955, trong lần thứ hai vào Nam, lấy danh nghĩa đi lấy hàng cho mậu dịch, mẹ không may bị địch phát hiện và bắt giữ. Hơn một năm bị giam cầm, tra tấn dã man tại Đà Nẵng, thậm chí bị đổ xà phòng vào miệng để hành hạ, mẹ vẫn giữ vững khí tiết, không khuất phục. Sau đó, nhờ tổ chức và người thân ở Sài Gòn tìm cách cứu giúp, mẹ mới được giải thoát.

Nghĩ về mẹ, tôi càng hiểu rằng đằng sau dáng vẻ dịu dàng, tần tảo của một người mẹ là bản lĩnh phi thường của người phụ nữ từng đi qua những năm tháng đấu tranh đầy hiểm nguy. Mẹ đã hy sinh tuổi trẻ, hạnh phúc riêng tư cho lý tưởng cách mạng, đồng thời giữ trọn tình nghĩa với người chồng ở phương Bắc suốt 21 năm xa cách.

Cuộc đoàn tụ còn dang dở

Cha mất ngày 7.8.2005, hưởng thọ 90 tuổi. Gần hai năm sau, ngày 4.4.2007, mẹ tôi cũng qua đời, hưởng thọ 89 tuổi.

Theo nguyện vọng của mẹ, ban đầu gia đình đưa bà về an táng tại Nghĩa trang Bình Hưng Hòa, nơi có nhiều phần mộ người thân bên ngoại. Nhưng rồi nghĩa trang được giải tỏa, mộ mẹ phải di dời về Phúc An Viên, nơi bà hiện an nghỉ cùng một số người thân bên ngoại.

Cuộc đời dường như vẫn chưa thôi sắp đặt những cuộc chia xa. Cha mẹ đã cách biệt 21 năm khi còn sống, đến lúc trở về với tổ tiên vẫn chưa thể nằm cạnh nhau. Vì thế, trong lần tu sửa mộ phần này, chúng tôi dành sẵn một vị trí ngay bên cạnh cha để đón mẹ trở về nếu sau này có sự thay đổi hoặc di dời tại Phúc An Viên.

Đó là mong muốn giản dị của con cháu: sau bao năm tháng cách trở, cha mẹ cuối cùng cũng được ở bên nhau. Nghĩ đến điều ấy, lòng tôi vừa ấm áp vừa nghẹn ngào. Một chỗ nằm cạnh nhau tưởng chừng bình thường, nhưng với cha mẹ tôi lại là cuộc đoàn tụ đã bị thời gian và hoàn cảnh trì hoãn quá lâu.

Bàn cờ tướng đặt trong khuôn viên.

Bàn cờ tướng đặt trong khuôn viên.

Ngôi mộ được xây dựng trang nghiêm, với lư hương, cây xanh và những hạng mục được lựa chọn cẩn thận. Nhưng chi tiết khiến tôi xúc động nhất là bàn cờ tướng đặt trong khuôn viên. Sinh thời, cha rất thích chơi cờ. Với người khác, đó có thể chỉ là một vật trang trí, nhưng với con cháu, bàn cờ là kỷ vật gợi lại hình bóng người cha với thú vui bình dị, những phút giây thư thái và những ván cờ năm nào.

Tôi muốn dành cho cha một góc nhỏ mang dấu ấn riêng của ông, để nơi an nghỉ không chỉ trang nghiêm mà còn có hơi ấm của ký ức.

Đạo hiếu không nằm ở đá quý mà ở cách sống của người còn lại

Trong văn hóa Việt Nam, mồ mả tổ tiên không chỉ là nơi an nghỉ của người đã khuất mà còn là chốn con cháu tìm về cội nguồn, nhắc nhau nhớ đến công ơn sinh thành và những giá trị gia đình. Một ngôi mộ được chăm sóc chu đáo, một ngày giỗ có con cháu sum họp, một nén hương thắp lên bằng lòng thành kính đều là những cách gìn giữ đạo lý uống nước nhớ nguồn.

Nhưng đạo hiếu không được đo bằng giá trị đá quý hay sự tốn kém trong xây dựng mồ mả. Một ngôi mộ dù lớn đến đâu cũng không thể bù đắp cho sự thiếu vắng tình thương và chăm sóc khi cha mẹ còn sống. Điều quan trọng hơn cả là con cháu biết yêu thương, đùm bọc nhau, sống tử tế, giữ gìn nền nếp gia đình và tiếp nối những điều tốt đẹp mà thế hệ trước đã vun đắp.

Cha mẹ đã đi xa, nhưng những gì ông bà để lại vẫn hiện diện trong cuộc đời chúng tôi: nghị lực của người cha một mình nuôi bốn con trưởng thành; sự thủy chung của người mẹ suốt 21 năm xa chồng; cùng những mong mỏi về học hành, nhân cách và trách nhiệm với đất nước. Những điều ấy không cần khắc lên bia đá, bởi đã thấm vào ký ức, trở thành hành trang trong cách nghĩ và cách sống của các thế hệ con cháu.

Một đời người rồi cũng khép lại. Nhà cửa, tài sản, danh vọng có thể đổi thay, nhưng tình nghĩa vợ chồng, công ơn cha mẹ và những giá trị tốt đẹp được trao truyền thì còn mãi.

Chúng tôi mong một ngày mẹ được trở về bên cha. Không còn khoảng cách Bắc – Nam, không còn những cuộc chia ly, cũng không còn nỗi lo phải di dời vì những thay đổi của cuộc sống. Chỉ còn một chốn bình yên, nơi hai người được ở cạnh nhau trong cõi vĩnh hằng.

Ngôi mộ vừa được tu sửa vì thế không chỉ là nơi cha mẹ an nghỉ, mà còn là mái nhà của ký ức, nơi con cháu tìm về để nhớ mình từ đâu mà có, để hiểu rằng cuộc đời mình đã được xây đắp bằng biết bao yêu thương và hy sinh.

Sau tất cả, điều chúng tôi muốn giữ lại không phải là một ngôi mộ thật đẹp, mà là tình nghĩa của cha mẹ và những giá trị gia đình không bao giờ phai nhạt. Đá có thể bạc màu theo năm tháng, cảnh vật có thể đổi thay, nhưng tình yêu thương của cha mẹ vẫn sống mãi trong lòng con cháu. Và có lẽ, sự đoàn tụ trọn vẹn nhất không chỉ là ngày mẹ được nằm bên cha, mà còn là khi các thế hệ con cháu biết sống xứng đáng với cuộc đời và tình yêu thương mà ông bà đã dành cho mình.

Tô Văn Trường

Nguồn Người Đô Thị: https://nguoidothi.net.vn/sau-mot-doi-nguoi-cha-me-lai-ve-ben-nhau-54454.html