Sáu nhóm giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao: Từ chính sách đến sử dụng nhân tài
Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ, ngành liên quan tập trung vào sáu nhóm giải pháp, từ đãi ngộ nhà giáo, đầu tư đại học nghiên cứu đến đổi mới đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài.
Trong bối cảnh trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi nhanh cơ cấu việc làm, Việt Nam đặt mục tiêu làm chủ các công nghệ chiến lược nhưng vẫn đứng trước nguy cơ thiếu hụt nhân lực trình độ cao.
Yêu cầu đặt ra đối với ngành Giáo dục và Đào tạo là có những giải pháp đột phá về phát triển đội ngũ nhà giáo, đầu tư cho các đại học nghiên cứu và đổi mới mô hình đào tạo để hình thành lực lượng nhân lực có khả năng nghiên cứu, làm chủ và sáng tạo công nghệ.

Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN trao học bổng không chỉ hỗ trợ nghiên cứu sinh hoàn thành luận án tiến sĩ, chính sách còn đặt mục tiêu tạo nguồn một thế hệ giảng viên, nhà khoa học kế cận có năng lực nghiên cứu và giảng dạy xuất sắc.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là một trong những vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với tương lai và năng lực cạnh tranh của đất nước. Muốn làm chủ khoa học, công nghệ thì trước hết phải làm chủ nguồn nhân lực. Việt Nam có thể mua thiết bị, tiếp nhận hoặc nhập khẩu công nghệ, nhưng năng lực nghiên cứu, cải tiến và sáng tạo công nghệ phải được hình thành từ chính đội ngũ con người Việt Nam.
Thời gian qua, lĩnh vực giáo dục và đào tạo luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Đảng, Nhà nước và cá nhân đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm. Nhiều lần làm việc với ngành Giáo dục, đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã nhấn mạnh yêu cầu giáo dục phải đi trước một bước, phải tự đổi mới sâu sắc từ bên trong, lấy chất lượng thực chất và sự phát triển của người học làm thước đo; đồng thời đặc biệt quan tâm đến vị trí, vai trò của đội ngũ nhà giáo.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã khẳng định: “Trong mỗi bước trưởng thành của học trò đều có tâm huyết của người thầy, trong mỗi bước tiến của dân tộc đều có nền móng của giáo dục” và “chăm lo giáo dục trước hết là chăm lo cho người thầy”.
Tinh thần đó được thể hiện rõ trong các quyết sách lớn của Đảng. Nghị quyết số 57-NQ/TW xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực quan trọng hàng đầu của phát triển; Nghị quyết số 71-NQ/TW xác định giáo dục và đào tạo là nền tảng trực tiếp để chuẩn bị con người, nhân lực và nhân tài cho quá trình phát triển đó.
Hai nghị quyết có mối quan hệ chặt chẽ: Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu về năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 71 tạo đột phá về giáo dục và đào tạo để hình thành đội ngũ hiện thực hóa yêu cầu ấy.

Nghị quyết 57 đặt ra yêu cầu về năng lực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Nghị quyết 71 tạo đột phá về giáo dục và đào tạo để hình thành đội ngũ hiện thực hóa yêu cầu
Từ định hướng đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng các bộ, ngành có liên quan đang tập trung vào sáu nhóm giải pháp lớn. Cụ thể như sau:
Đãi ngộ xứng đáng, thu hút và giữ chân người thầy giỏi
Trước hết, phải chăm lo, phát triển và có chính sách đãi ngộ xứng đáng đối với đội ngũ nhà giáo, nhà khoa học. Chất lượng nguồn nhân lực trước hết phụ thuộc vào chất lượng người thầy. Không thể có những trường đại học mạnh nếu không có đội ngũ giảng viên, nhà khoa học mạnh; không thể đào tạo nhân tài nếu không thu hút và giữ chân được người tài trong các cơ sở giáo dục.
Vì vậy, cùng với việc triển khai Luật Nhà giáo, ngành Giáo dục đang cụ thể hóa đồng bộ các chính sách về phụ cấp ưu đãi nghề, giảng viên đồng cơ hữu, nhà giáo thỉnh giảng và thu hút chuyên gia, nhà khoa học trong nước, người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế tham gia giảng dạy, nghiên cứu.
Chính sách đãi ngộ không chỉ là thu nhập, mà còn phải tạo môi trường học thuật lành mạnh, điều kiện nghiên cứu thuận lợi và cơ hội để người giỏi được giao nhiệm vụ lớn, được sáng tạo và cống hiến lâu dài.
Đầu tư có trọng điểm cho đại học nghiên cứu
Cùng với phát triển đội ngũ, phải đầu tư có trọng tâm, trọng điểm để phát triển một số đại học theo hướng nghiên cứu, tinh hoa và đạt trình độ quốc tế. Không thể đầu tư dàn trải và cũng không thể yêu cầu các trường đại học thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu lớn nếu thiếu phòng thí nghiệm, thiết bị, hạ tầng số, cơ sở dữ liệu và nguồn lực ổn định.
Nhà nước cần tập trung đầu tư cho một số đại học, ngành đào tạo, nhóm nghiên cứu, phòng thí nghiệm trọng điểm và trung tâm xuất sắc có khả năng dẫn dắt; đồng thời hoàn thiện cơ chế tự chủ, cơ chế tài chính, đặt hàng nhiệm vụ và sử dụng chung hạ tầng nghiên cứu.
Quy hoạch mạng lưới giáo dục đại học, chính sách về tự chủ và tài chính, cùng quy định về hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong cơ sở giáo dục đại học đã tạo khuôn khổ để phân bổ nguồn lực theo sứ mạng, chất lượng và kết quả đầu ra.
Trên cơ sở đó, cần từng bước hình thành các hệ sinh thái đại học - khoa học, công nghệ - đổi mới sáng tạo tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh và các vùng động lực phát triển, trong đó đại học, viện nghiên cứu, doanh nghiệp công nghệ và địa phương cùng chia sẻ hạ tầng, dữ liệu, đội ngũ chuyên gia và nhiệm vụ nghiên cứu.
Một đại học nghiên cứu phải đồng thời thực hiện tốt ba chức năng: đào tạo nhân lực chất lượng cao; tạo ra tri thức mới; chuyển hóa tri thức thành công nghệ, sản phẩm, doanh nghiệp và giá trị cho xã hội.
Các đề án phát triển trung tâm đào tạo xuất sắc, các đại học quốc gia và một số cơ sở giáo dục đại học lớn tại Hà Nội, Đông Nam Bộ, miền Trung và Tây Nguyên đang cụ thể hóa định hướng đầu tư có trọng tâm, hình thành các đầu tàu đào tạo, nghiên cứu và đổi mới sáng tạo.
Vì vậy, đầu tư cho đại học nghiên cứu không chỉ là đầu tư cho một cơ sở giáo dục, mà chính là đầu tư cho năng lực khoa học, công nghệ và sức cạnh tranh dài hạn của quốc gia.

Sinh viên Trường Đại học Công nghệ – Đại học Quốc gia Hà Nội thực hành tại phòng thí nghiệm của trường
Đào tạo những gì đất nước cần và tương lai cần
Về định hướng đào tạo, phải chuyển mạnh từ tư duy “đào tạo những gì nhà trường đang có” sang “đào tạo những gì đất nước cần và tương lai cần”. Công tác dự báo nhu cầu nhân lực phải dựa trên dữ liệu và có sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành, địa phương, doanh nghiệp và cơ sở đào tạo. Nhà nước cần đổi mới cơ chế đặt hàng, giao nhiệm vụ và gắn việc phân bổ nguồn lực với kết quả đầu ra.
Cơ cấu đào tạo cần tiếp tục được điều chỉnh theo hướng tăng các ngành STEM, khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Các chương trình quốc gia về nhân lực công nghệ cao, công nghiệp bán dẫn và trí tuệ nhân tạo đã xác định rõ yêu cầu phát triển đồng thời chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, phòng thí nghiệm, năng lực nghiên cứu và liên kết với doanh nghiệp.
Năm 2026, tỷ lệ sinh viên nhập học các ngành STEM đạt 33,6%; 90 chương trình tài năng trình độ kỹ sư, thạc sĩ STEM đã được triển khai tại 23 cơ sở giáo dục đại học.
Tuy nhiên, quy mô tuyển sinh không phải là thước đo cuối cùng. Điều quan trọng là chất lượng tốt nghiệp, năng lực nghiên cứu, tỷ lệ có việc làm phù hợp và khả năng đóng góp vào những lĩnh vực đất nước đang cần.

Hợp tác quốc tế góp phần thúc đẩy chuyển giao tri thức, công nghệ và nâng cao chất lượng đào tạo. Ảnh: Bộ GD-ĐT
Gắn đào tạo với nghiên cứu và bài toán của doanh nghiệp
Để đáp ứng yêu cầu đó, phải đổi mới căn bản mô hình và phương thức đào tạo. Nhân lực công nghệ cao không thể chỉ được đào tạo bằng bài giảng trên lớp. Sinh viên phải được tham gia nghiên cứu, làm việc trong phòng thí nghiệm, thực tập và giải quyết bài toán thực tế của doanh nghiệp ngay trong quá trình học.
Chương trình đào tạo phải mở, linh hoạt, liên ngành, được cập nhật thường xuyên và có sự tham gia thực chất của doanh nghiệp, viện nghiên cứu và chuyên gia quốc tế.
Cần hình thành chuỗi liên kết đồng bộ: “dự báo nhu cầu nhân lực - tuyển sinh - đào tạo - nghiên cứu - doanh nghiệp - việc làm”. Doanh nghiệp không chỉ là nơi tiếp nhận sinh viên sau tốt nghiệp mà phải tham gia từ khâu xác định nhu cầu, xây dựng chương trình, tổ chức đào tạo, nghiên cứu, thực hành và đánh giá chuẩn đầu ra.

Nụ cười rạng rỡ của sinh viên trong Lễ tốt nghiệp
Phát hiện, đào tạo nhân tài phải gắn với sử dụng
Một nhóm giải pháp cần được đặc biệt quan tâm là phát hiện, đào tạo, thu hút và sử dụng nhân tài. Bên cạnh đào tạo nhân lực trên diện rộng, đất nước cần những nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng và các nhóm nghiên cứu đủ năng lực dẫn dắt.
Vì vậy, cần mở rộng các chương trình tài năng, chương trình kỹ sư và sau đại học chất lượng cao; tạo điều kiện để sinh viên giỏi tham gia nghiên cứu từ sớm; triển khai hiệu quả chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược và chương trình đào tạo tại các trường đại học hàng đầu thế giới.
Đồng thời, đào tạo phải gắn với sử dụng. Nếu đào tạo được người giỏi nhưng không có môi trường để họ phát huy năng lực, không giao cho họ những bài toán đủ lớn và không có cơ chế đánh giá, đãi ngộ phù hợp thì vẫn chưa giải quyết trọn vẹn bài toán nguồn nhân lực.

Không có tài nguyên nào quý hơn nhân tài. Không có khoản đầu tư nào mang lại hiệu quả lâu dài hơn đầu tư cho giáo dục, khoa học và công nghệ.
Đánh giá hiệu quả đào tạo bằng kết quả thực chất
Đối với việc đánh giá hiệu quả đào tạo, yêu cầu đặt ra là phải dựa trên kết quả thực chất. Tự chủ phải đi cùng trách nhiệm giải trình; mở rộng quy mô phải đi cùng bảo đảm chất lượng; đầu tư phải gắn với sản phẩm đầu ra.
Kết quả không chỉ được đo bằng số ngành mở mới, số người nhập học hay số văn bằng được cấp, mà phải bằng năng lực thật của người tốt nghiệp, việc làm phù hợp, kết quả nghiên cứu - chuyển giao và khả năng giải quyết những bài toán phát triển của doanh nghiệp, địa phương và đất nước.
Mục tiêu cuối cùng là xây dựng được một lực lượng nhân lực có chuyên môn vững, năng lực số và ngoại ngữ tốt, có tư duy độc lập, khả năng đổi mới sáng tạo, thích ứng và học tập suốt đời; đồng thời có bản lĩnh, đạo đức nghề nghiệp và khát vọng cống hiến.
Đó mới là nguồn nhân lực chất lượng cao mà Việt Nam cần để hiện thực hóa các mục tiêu của Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71, từng bước làm chủ công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới.
