Sầu riêng hướng tới mốc 4 tỷ USD: Cơ hội lớn, áp lực chuẩn hóa chuỗi càng cao

Xuất khẩu sầu riêng tiếp tục tăng mạnh trong khi vụ thu hoạch lớn tại Tây Nguyên mới bước vào chính vụ. Cánh cửa thị trường Ấn Độ vừa mở thêm dư địa tăng trưởng, nhưng để tiến tới mốc 4 tỷ USD, doanh nghiệp không chỉ cần thêm thị trường mà còn phải kiểm soát chặt vùng nguyên liệu, chất lượng và truy xuất nguồn gốc.

Thêm dư địa từ thị trường Ấn Độ

Bức tranh xuất khẩu rau quả tiếp tục duy trì gam màu tích cực. Lũy kế 7 tháng đầu năm 2026, kim ngạch xuất khẩu rau quả ước đạt 4,76 tỷ USD, tăng 23% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, nhập khẩu đạt khoảng 1,84 tỷ USD, tăng 27%, đưa mức xuất siêu của toàn ngành lên gần 2,92 tỷ USD.

Vào cuối tháng 7, Chính phủ Ấn Độ cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Ảnh AI

Vào cuối tháng 7, Chính phủ Ấn Độ cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Ảnh AI

Trung Quốc vẫn là thị trường lớn nhất, chiếm hơn một nửa tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả của Việt Nam. Bên cạnh đó, Mỹ, Hàn Quốc, Nhật Bản, Hà Lan và nhiều thị trường khác tiếp tục tăng trưởng, góp phần giảm mức độ phụ thuộc vào một thị trường duy nhất.

Trong cơ cấu này, sầu riêng tiếp tục giữ vai trò chủ lực. Theo ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, mặt hàng này đóng góp hơn 50% tổng kim ngạch xuất khẩu rau quả.

Dư địa tăng trưởng trong những tháng cuối năm còn khá lớn khi Tây Nguyên, vùng sản xuất sầu riêng trọng điểm của cả nước, mới bước vào chính vụ. Theo ông Nguyên, nếu duy trì được đà tăng trưởng hiện nay, kim ngạch xuất khẩu sầu riêng cả năm 2026 có khả năng vượt 4 tỷ USD.

Đáng chú ý, đây là dự báo dựa trên nguồn cung và diễn biến thị trường chứ không phải mục tiêu được cơ quan quản lý ấn định.

Một động lực mới xuất hiện vào cuối tháng 7/2026 khi Chính phủ Ấn Độ cho phép nhập khẩu sầu riêng tươi của Việt Nam. Theo lãnh đạo Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật, phía Ấn Độ không yêu cầu khai báo kiểm dịch thực vật bổ sung trên giấy chứng nhận và cũng không áp dụng điều kiện nhập khẩu đặc biệt đối với mặt hàng này. Thị trường hơn 1,4 tỷ dân vì thế mở thêm một hướng đi bên cạnh Trung Quốc.

Tuy nhiên, quy mô dân số lớn chưa đồng nghĩa với khả năng tiêu thụ lớn ngay lập tức. Thuế nhập khẩu và thói quen tiêu dùng là hai vấn đề doanh nghiệp cần tính toán. Khác với Trung Quốc, sầu riêng vẫn là loại trái cây tương đối xa lạ với phần đông người tiêu dùng Ấn Độ.

Trong giai đoạn đầu, nhu cầu được dự báo chủ yếu tập trung tại các đô thị lớn, cửa hàng trái cây nhập khẩu, hệ thống bán lẻ cao cấp, khách sạn, nhà hàng và các kênh thương mại điện tử.

Điều đó đặt doanh nghiệp trước yêu cầu nghiên cứu kỹ chính sách thuế, khả năng tận dụng ưu đãi từ Hiệp định Thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ, cũng như bài toán đóng gói, logistics và xây dựng hệ thống phân phối.

Với một thị trường chưa có thói quen tiêu dùng sầu riêng tươi phổ biến, các sản phẩm cấp đông, sấy khô hoặc chế biến cũng được đánh giá là hướng tiếp cận phù hợp trong giai đoạn đầu. Đây đồng thời là giải pháp kéo dài thời gian bảo quản và giảm áp lực tiêu thụ khi sản lượng chính vụ tăng cao.

Có mã số chưa đủ để giữ thị trường

Cùng thời điểm sầu riêng Tây Nguyên bước vào chính vụ, Nghị quyết số 36/2026/NQ-CP bắt đầu có hiệu lực, tạo ra những thay đổi đáng kể trong quy trình cấp và quản lý mã số vùng trồng, mã số cơ sở đóng gói.

Theo quy định mới, hồ sơ được nộp qua Cổng dịch vụ công quốc gia và giải quyết tại UBND cấp xã. Thời gian xử lý tối đa là ba ngày làm việc đối với trường hợp không đăng ký xuất khẩu tới thị trường yêu cầu mã số và 10 ngày đối với trường hợp có đăng ký xuất khẩu.

Việc phân cấp giúp rút ngắn thủ tục nhưng đồng thời gắn trách nhiệm quản lý trực tiếp với chính quyền cơ sở. Chủ tịch UBND cấp xã thực hiện việc cấp, cấp lại, tạm dừng, thu hồi hoặc khôi phục mã số; dữ liệu được quản lý tập trung và kết nối với hệ thống truy xuất nguồn gốc.

Tuy nhiên, thủ tục nhanh hơn không có nghĩa tiêu chuẩn xuất khẩu được hạ xuống. Các mã số phục vụ xuất khẩu vẫn phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình phê duyệt của từng thị trường nhập khẩu.

Tại hội nghị triển khai nghị quyết, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Nguyễn Hoàng Hiệp nhấn mạnh mã số vùng trồng chỉ là một trong ba điều kiện tối thiểu để nông sản đáp ứng yêu cầu xuất khẩu. Hai yếu tố còn lại là quy trình sản xuất đạt chuẩn và nhật ký ghi chép đầy đủ.

Nói cách khác, sở hữu mã số không thể thay thế việc kiểm soát vật tư nông nghiệp, chất lượng tại vườn, thời điểm thu hoạch hay hồ sơ truy xuất của từng lô hàng.

Thực tế tại Đắk Lắk cho thấy quy mô sản xuất lớn đang đi cùng yêu cầu tổ chức lại chuỗi. Tỉnh hiện có khoảng 44.000 ha sầu riêng, sản lượng niên vụ 2026 ước đạt 500.000 tấn. Đắk Lắk đã có 280 mã số vùng trồng với khoảng 7.500 ha và 42 mã số cơ sở đóng gói phục vụ xuất khẩu.

Ngoài ra, 165 vùng trồng với diện tích gần 4.915 ha cùng 66 cơ sở đóng gói đang chờ Tổng cục Hải quan Trung Quốc thẩm định, phê duyệt.

Ở khâu liên kết sản xuất, địa phương có 28 hợp tác xã chuyên sản xuất sầu riêng và 185 hợp tác xã nông nghiệp ký hợp đồng liên kết với doanh nghiệp. Bảy doanh nghiệp bước đầu xây dựng được chuỗi khép kín từ vùng trồng đến sơ chế, đóng gói; 16 đơn vị đóng gói sầu riêng đông lạnh đã được phía Trung Quốc phê duyệt mã số xuất khẩu. Đây là nền tảng quan trọng để tổ chức vùng nguyên liệu và đưa chế biến tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị.

Mốc 4 tỷ USD phụ thuộc vào năng lực vận hành chuỗi

Dư địa tăng trưởng còn lớn, song những điểm nghẽn trong chuỗi sản xuất sầu riêng chưa được giải quyết hoàn toàn.

Vùng nguyên liệu tại Đắk Lắk vẫn còn manh mún, nhiều diện tích trồng xen khiến việc áp dụng đồng nhất quy trình gặp khó khăn. Một số chủ thể chú trọng việc được cấp mã số nhưng chưa quan tâm đúng mức đến duy trì các điều kiện kỹ thuật sau khi được cấp.

Đặc biệt, khi giá sầu riêng tăng cao, tình trạng tranh mua, thu hoạch trái non hoặc phá vỡ cam kết liên kết vẫn có thể xảy ra, kéo theo rủi ro đối với chất lượng sản phẩm và kế hoạch giao hàng của doanh nghiệp.

Theo ông Nguyễn Thiên Văn, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đắk Lắk, địa phương đang yêu cầu rà soát các vùng sản xuất tập trung, đẩy nhanh việc cấp mã số nhưng đồng thời phải quản lý chặt những mã số đang hoạt động. Các khâu thu mua, bảo quản, sơ chế và chế biến cần có sự phối hợp giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và hiệp hội nhằm hạn chế tình trạng ùn ứ, ép giá hoặc đứt gãy chuỗi cung ứng khi sản lượng chính vụ tăng cao.

Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đang hỗ trợ Đắk Lắk, Gia Lai và Lâm Đồng số hóa dữ liệu, hoàn thiện hồ sơ mã số vùng trồng và cơ sở đóng gói.

Những thay đổi về thủ tục có thể giúp doanh nghiệp tiết kiệm thời gian, nhưng yêu cầu đối với hàng xuất khẩu không vì thế giảm xuống. Từ vùng nguyên liệu tới nhà máy cấp đông, từ nhật ký canh tác tới hồ sơ truy xuất nguồn gốc, mỗi mắt xích đều có thể ảnh hưởng trực tiếp tới khả năng đáp ứng đơn hàng và duy trì thị trường.

Vì vậy, 4 tỷ USD không chỉ là câu chuyện sản lượng hay việc mở thêm một thị trường mới. Khả năng chạm tới cột mốc này còn phụ thuộc vào mức độ liên kết giữa nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp; năng lực chế biến, bảo quản; cũng như khả năng duy trì tiêu chuẩn xuyên suốt từ vùng trồng đến xuất khẩu.

Khi thị trường ngày càng đặt ra yêu cầu cao hơn về chất lượng và truy xuất nguồn gốc, lợi thế dài hạn của sầu riêng Việt Nam sẽ không chỉ nằm ở việc bán được bao nhiêu, mà còn ở khả năng xây dựng và vận hành một chuỗi xuất khẩu đủ ổn định để giữ được đơn hàng và thị trường.

Đức Thuận

Nguồn TBNH: https://thoibaonganhang.vn/sau-rieng-huong-toi-moc-4-ty-usd-co-hoi-lon-ap-luc-chuan-hoa-chuoi-cang-cao-186094.html