Sáu tháng chiến sự Trung Đông định hình lại dòng chảy năng lượng toàn cầu

Sáu tháng chiến sự giữa Mỹ, Israel và Iran kể từ ngày 28-2 đã làm xáo trộn thị trường năng lượng toàn cầu. Nguồn cung dầu khí từ Trung Đông bị gián đoạn, hoạt động vận tải qua Eo biển Hormuz đình trệ, trong khi giá nhiên liệu tăng mạnh trên nhiều thị trường.

Những tác động kinh tế ngày càng hiện rõ cũng cho thấy mức độ phụ thuộc vào năng lượng nhập khẩu đang tạo ra khác biệt đáng kể giữa các nền kinh tế.

Tàu thuyền di chuyển trên Eo biển Hormuz. Ảnh: Reuters

Tàu thuyền di chuyển trên Eo biển Hormuz. Ảnh: Reuters

Thị trường thích ứng

Theo Trung tâm Nghiên cứu Năng lượng và Không khí sạch, các nước nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch đã phải chi thêm hơn 330 tỷ USD kể từ khi chiến sự bắt đầu ngày 28-2.

Tại các nền kinh tế đang phát triển, phần chi phí tăng thêm tương đương khoảng 1% GDP, cao hơn gấp đôi mức tương đối ở các nước giàu.

Áp lực từ giá nhiên liệu nhanh chóng lan sang cán cân thương mại, tỷ giá, lạm phát và ngân sách, đặc biệt ở những nước có ít dư địa để trợ giá hoặc tìm nguồn cung thay thế. Ethiopia gần đây phải sử dụng hàng tỷ USD dự trữ ngoại hối để bảo vệ đồng birr, còn Nhật Bản và Hàn Quốc, vốn nhận phần lớn nguồn dầu qua Hormuz trước chiến tranh, cũng phải hấp thụ chi phí nhiên liệu cao hơn.

Mức giá ấy vẫn được duy trì trong lúc nút thắt lớn nhất của thị trường chưa được giải quyết. Trước chiến tranh, hơn 100 tàu mỗi ngày đi qua Hormuz, tuyến đường từng chuyên chở khoảng một phần năm lượng dầu của thế giới, nhưng gần đây chỉ còn khoảng một chục.

Dầu Brent vẫn cao hơn hơn 20% so với trước xung đột, song sản lượng tăng ở châu Mỹ, việc sử dụng dự trữ chiến lược và nhu cầu giảm tại một số thị trường đã giúp thế giới tránh được tình trạng thiếu hụt nghiêm trọng hơn.

Nếu dầu từ những nguồn khác có thể bù đắp một phần lượng cung bị gián đoạn, những khoản đầu tư năng lượng được thực hiện từ nhiều năm trước lại giúp một số nền kinh tế giảm nhu cầu phải tìm nguồn thay thế.

Tại Trung Quốc, công suất năng lượng tái tạo bổ sung từ năm 2020 được ước tính đã giúp nước này tránh gần 8 tỷ USD chi phí nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch chỉ trong khoảng từ tháng 3 đến tháng 7. Trong điều kiện giá cả và khả năng tiếp cận nguồn cung cùng biến động theo chiến sự, lượng nhiên liệu không phải mua từ bên ngoài mang lại một lợi ích kinh tế rất cụ thể.

Phản ứng của thị trường cũng thể hiện qua dòng hàng công nghệ sạch. Trong nửa đầu năm, lượng thiết bị điện mặt trời Trung Quốc xuất sang châu Phi tăng 37% so với cùng kỳ.

Tại Philippines, nơi từng phải áp dụng các biện pháp tiết kiệm năng lượng sau những đợt thiếu nhiên liệu đầu tiên, nhập khẩu thiết bị điện mặt trời từ Trung Quốc trong tháng 3 tăng tới 262%. Doanh số xe điện cũng đi lên tại nhiều thị trường châu Á khi chi phí sử dụng nhiên liệu truyền thống tăng.

Với năng lực sản xuất lớn về pin, tấm quang điện và xe điện, Trung Quốc đang nhận được phần đáng kể của nhu cầu mới này. Xuất khẩu công nghệ sạch của nước này đã lập kỷ lục về giá trị trong năm tháng liên tiếp kể từ khi chiến sự bắt đầu.

Trong khi đó, việc người mua tìm nguồn thay thế cho dầu vùng Vịnh cũng giúp các nhà sản xuất tại Mỹ, Canada và Mỹ Latinh tăng sản lượng. Quá trình điện hóa nếu tiếp tục còn có thể mở rộng nhu cầu đối với đồng, lithium và các khoáng sản thiết yếu.

Những dịch chuyển chưa ngã ngũ

Giá dầu cao đang khiến điện mặt trời, xe điện và một số công nghệ thay thế hấp dẫn hơn về kinh tế, đồng thời tạo thêm động lực khai thác cho những nhà sản xuất dầu nằm ngoài Trung Đông.

Ngay tại vùng Vịnh, nơi nhiều quốc gia đang đầu tư lớn cho chuyển dịch năng lượng, chiến tranh lại đẩy chi phí vay vốn lên cao và ảnh hưởng đến hiệu quả tài chính của một số dự án điện sạch.

Diễn biến phát thải cũng khác với những lo ngại ban đầu khi nguồn dầu khí Trung Đông bị gián đoạn. Việc các nền kinh tế quay mạnh trở lại với than để bù đắp thiếu hụt đến nay chưa xảy ra trên phạm vi toàn cầu.

Theo phân tích sơ bộ của Climate Trace, lượng khí nhà kính trong nửa đầu năm chỉ tăng khoảng 0,2% so với cùng kỳ năm trước, trong khi năng lượng tái tạo tiếp tục mở rộng.

Những chuyển động hiện nay có thể thay đổi đáng kể nếu chiến sự kết thúc. Giá dầu khí hạ nhiệt sẽ khiến doanh nghiệp và người tiêu dùng tính toán lại một số quyết định được đưa ra trong thời kỳ nhiên liệu đắt đỏ, đồng thời thu hẹp lợi nhuận mà các nhà sản xuất dầu khí ngoài vùng chiến sự đang hưởng.

Nửa năm vẫn là khoảng thời gian quá ngắn để xác định cuộc chiến sẽ để lại ảnh hưởng lâu dài đến đâu đối với quá trình chuyển dịch năng lượng.

Phần chênh lệch giá do chiến tranh có thể biến mất nhanh hơn rủi ro địa chính trị mà cuộc khủng hoảng vừa phơi bày. Các dự án điện gió, điện mặt trời, nhà máy điện khí hay hạ tầng nhập khẩu nhiên liệu đều được hoạch định cho nhiều thập niên, trải qua nhiều chu kỳ giá và có thể cả những cuộc khủng hoảng mới.

Một nguồn năng lượng có giá cạnh tranh trong điều kiện bình thường sẽ mang một giá trị khác nếu nguồn cung của nó phụ thuộc vào tuyến vận chuyển có thể bị gián đoạn.

Ngọc Lâm

Nguồn Hà Nội Mới: https://hanoimoi.vn/sau-thang-chien-su-trung-dong-dinh-hinh-lai-dong-chay-nang-luong-toan-cau-1533388.html