SERIES: Muốn đi tắt đón đầu trong chuyển đổi số, trước hết phải hiểu đúng

Kỳ 1: Không phải cứ có CHATBOT là có AI

Những năm gần đây, AI, chuyển đổi số, mô hình lớn, tác nhân AI hay thành phố thông minh được nhắc đến rất nhiều. Với nhiều người dân, đây vẫn là những khái niệm mới, khó và có phần xa cuộc sống hằng ngày. Điều đó cũng dễ hiểu. Nhưng càng là vấn đề mới thì chúng ta càng cần hiểu đúng ngay từ đầu. Đi nhanh mà đi sai hướng thì càng khó sửa về sau.

Phát biểu tại Hội thảo chuyển đổi số tỉnh năm 2025, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa nhấn mạnh: Chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải theo hướng “thực chiến”, thực chất, không làm theo phong trào, lấy hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp làm thước đo.

Phát biểu tại Hội thảo chuyển đổi số tỉnh năm 2025, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lê Hải Hòa nhấn mạnh: Chuyển đổi số và ứng dụng trí tuệ nhân tạo phải theo hướng “thực chiến”, thực chất, không làm theo phong trào, lấy hiệu quả phục vụ người dân và doanh nghiệp làm thước đo.

Nếu chưa hiểu kỹ, rất dễ nghĩ rằng chỉ cần có một chatbot biết trả lời, một phần mềm hiện đại, hay một màn hình điều hành đẹp là đã có AI, đã chuyển đổi số. Thực ra không phải vậy. Chatbot đơn giản chỉ là công cụ trò chuyện hỏi - đáp trên máy tính hoặc điện thoại. Người dùng gõ câu hỏi, hệ thống trả lời bằng chữ hoặc bằng giọng nói. Chatbot có thể giúp hướng dẫn ban đầu, tra cứu thông tin, trả lời những câu hỏi lặp lại nhiều lần. Nhưng đó chỉ là một ứng dụng cụ thể của AI, không phải toàn bộ AI, càng không phải là cốt lõi chuyển đổi số.

Bản chất của chuyển đổi số nằm ở chỗ: AI gắn với dữ liệu, với cách vận hành công việc, với cách tổ chức bộ máy và với năng lực quản trị. Định hướng Chính phủ số của Việt Nam đến năm 2030 cũng nhấn mạnh việc chuyển sang mô hình điều hành chủ động hơn, dự báo tốt hơn, lấy người dân làm trung tâm hơn, dựa trên dữ liệu lớn, AI và các nền tảng liên thông.

Giai đoạn đầu tiên: tin học hóa, tức là thay giấy bằng máy

Giai đoạn đầu của quá trình này là tin học hóa. Hiểu đơn giản là công việc vốn làm trên giấy thì được đưa lên máy tính. Văn bản được đánh máy thay vì viết tay. Hồ sơ được lưu trong máy thay vì cất trong tủ. Cơ quan có phần mềm quản lý văn bản, có email công vụ, có máy quét, máy in. Đây là bước đi rất cần thiết.

Nhưng ở giai đoạn này, bản chất công việc chưa thay đổi nhiều. Quy trình vẫn gần như cũ, chỉ thay công cụ. Công việc vẫn đi qua nhiều khâu như trước, dữ liệu vẫn nằm rải rác ở từng nơi, chỉ có điều giấy được thay bằng file điện tử. Nói cách khác, tin học hóa giúp nhanh hơn, gọn hơn, đỡ thủ công hơn, nhưng chưa làm cho bộ máy thay đổi căn bản. Như trước đây ta đi xe đạp trên một con đường; thì vẫn cung đường đó không thay đổi, ta đi bằng xe máy.

Hạn chế lớn nhất của giai đoạn này là dễ tạo cảm giác đã hiện đại hóa rất nhiều, trong khi công việc cốt lõi vẫn vận hành theo lối cũ. Nếu dừng ở đây, mỗi nơi sẽ có một kho file riêng, nhưng rất khó biến các file đó thành dữ liệu dùng chung để điều hành.

Giai đoạn thứ hai: công nghệ số, tức là bắt đầu kết nối

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh tập huấn bồi dưỡng kỹ năng số và khai thác các hệ thống thông tin phục vụ chính quyền 2 cấp cho cán bộ cơ sở.

Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh tập huấn bồi dưỡng kỹ năng số và khai thác các hệ thống thông tin phục vụ chính quyền 2 cấp cho cán bộ cơ sở.

Sau tin học hóa là giai đoạn công nghệ số. Đây là lúc các hệ thống bắt đầu kết nối với nhau. Người dân có thể nộp hồ sơ trực tuyến. Cơ quan nhà nước sử dụng phần mềm để điều hành công việc. Một số dữ liệu được chia sẻ giữa các đơn vị. Dịch vụ công trực tuyến, thanh toán điện tử, chữ ký số, hồ sơ điện tử, báo cáo số dần đi vào đời sống. Ở giai đoạn này, hiệu quả đã rõ hơn. Không chỉ thay công cụ, mà cách làm việc cũng bắt đầu thay đổi. Nhiều việc nhanh hơn, thuận tiện hơn, tiết kiệm thời gian hơn cho cả người dân và cơ quan nhà nước.

Tuy vậy, từ chỗ “có hệ thống số” đến chỗ “vận hành thực sự bằng số” vẫn là một chặng đường dài. Có nơi hồ sơ nộp trực tuyến nhưng bên trong vẫn phải in ra giấy để xử lý. Có nơi mỗi đơn vị một phần mềm, dữ liệu chưa thực sự dùng chung. Người dân vẫn phải khai lại thông tin ở nhiều chỗ. Cán bộ vẫn phải nhập lại dữ liệu nhiều lần.

Rủi ro của giai đoạn này là nếu lựa chọn không đúng, chúng ta có thể đầu tư nhiều hệ thống nhưng mỗi hệ thống chỉ giải quyết một khâu nhỏ, không kết nối được với nhau. Khi đó, người dân vẫn còn thấy phiền, còn cán bộ vẫn mất nhiều thời gian tổng hợp thủ công. Có công nghệ số nhưng hiệu quả thực tế chưa cao. Chúng ta tự hỏi, vậy Cao Bằng đang ở giai đoạn nào?

Lê Hải Hòa - Ủy viên Dự khuyết Trung ương Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh

Nguồn Cao Bằng: https://baocaobang.vn/series-muon-di-tat-don-dau-trong-chuyen-doi-so-truoc-het-phai-hieu-dung-3186524.html