Siết chặt bản quyền: Cảnh báo cho doanh nghiệp 'xài chùa' phần mềm

Hàng chục nghìn doanh nghiệp Việt Nam vẫn vận hành trên nền phần mềm không bản quyền, nhưng thói quen từng được xem là vô hại này giờ đây đang kéo theo hậu quả ở tầm quốc gia. Trong đó có việc ảnh hưởng đến đầu tư, thu hút vốn FDI…; triệt tiêu, bóp nghẹt chính hệ sinh thái phần mềm nội địa.

"Bức tranh" vi phạm

Trong nhiều năm qua, việc sử dụng phần mềm "crack" tại Việt Nam được coi là chuyện bình thường, từ quán net vỉa hè đến văn phòng doanh nghiệp (DN), từ máy tính cá nhân đến một số hệ thống nội bộ cơ quan Nhà nước. Với nhiều chủ DN, việc "xài chùa" phần mềm đơn giản là cách tiết kiệm chi phí, một lựa chọn "ai cũng làm" và dường như chẳng gây hại cho ai.

Nhưng đã đến lúc các DN phải thay đổi. Ngày 30/4, Cơ quan đại diện Thương mại Mỹ (USTR) xếp Việt Nam vào nhóm Priority Foreign Country, bị điều tra về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ theo Mục 301 Đạo luật Thương mại năm 1974 của Mỹ đối với một số vấn đề liên quan đến bảo hộ và thực thi quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) của Việt Nam. Trong các lý do được nêu ra, có cả việc cho rằng Việt Nam thiếu các biện pháp thực thi hiệu quả đối với việc sử dụng phần mềm không có bản quyền.

Sử dụng phần mềm lậu - cái giá phải trả sẽ rất cao. Ảnh minh họa

Sử dụng phần mềm lậu - cái giá phải trả sẽ rất cao. Ảnh minh họa

Về vấn đề này, phát ngôn viên Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng cho biết: Việt Nam đã có nhiều nỗ lực trong cải thiện môi trường đổi mới sáng tạo và bảo hộ, thực thi quyền SHTT đã được ghi nhận bởi WIPO, với xếp hạng năm 2025 đạt 44 trong tổng số 139 quốc gia và nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu (GII), thuộc nhóm các nước có kết quả tích cực trong ASEAN về lĩnh vực này.

Thực tế, Việt Nam cũng đã rất nỗ lực trong việc bảo vệ quyền SHTT. Ngày 05/5/2026, Chính phủ Việt Nam có Công điện số 38/CĐ-TTg về việc tập trung chỉ đạo thực hiện quyết liệt các giải pháp đấu tranh, ngăn chặn, xử lý hành vi xâm phạm quyền SHTT.

Sau Công điện 38, Bộ Công thương ngay lập tức mở đợt cao điểm đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại, hàng giả và xâm phạm quyền SHTT. Bộ Văn hóa Thể thao và Du lịch cũng đã thành lập các đoàn kiểm tra DN sử dụng phần mềm không bản quyền và các hành vi sao chép, phát tán nội dung vi phạm trên website, nền tảng số, mạng xã hội. Cục Bản quyền tác giả được giao tham mưu tổ chức kiểm tra việc chấp hành quy định về bản quyền chương trình máy tính tại DN; bản quyền phim, âm nhạc, chương trình truyền hình và trò chơi điện tử trên mạng.

Trước đó, ngày 06/5, Cục Bản quyền tác giả yêu cầu cá nhân, DN không sử dụng chương trình máy tính không có bản quyền; không sử dụng trái phép quyền tác giả, quyền liên quan với tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng.

Tỉ lệ phần mềm không bản quyền tại Việt Nam đã giảm đáng kể trong thập kỷ qua, từ 85% năm 2009 xuống 74% vào năm 2017 - theo khảo sát toàn cầu gần nhất của Liên minh phần mềm (BSA - Business Software Alliance). Dù là xu hướng tích cực, con số 74% vẫn đặt Việt Nam ở nhóm cao nhất thế giới, vượt xa mức trung bình 57% của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và bỏ xa các nước láng giềng như Malaysia (53%), Thái Lan (66%) hay Singapore (27%). BSA tiếp tục xếp Việt Nam vào nhóm "thị trường rủi ro cao" (Rouse, 2024).

Giá trị thương mại của phần mềm lậu được cài đặt tại Việt Nam ước tính đạt 598 triệu USD năm 2015 và giảm xuống 492 triệu USD năm 2017, theo BSA. Con số thực tế hiện tại gần như chắc chắn cao hơn, khi số lượng máy tính cá nhân và các DN sử dụng công nghệ tại Việt Nam đã tăng mạnh trong giai đoạn hậu Covid-19.

Phần mềm không bản quyền gây nhiều rủi ro về an toàn cho doanh nghiệp và người dùng. Ảnh minh họa

Phần mềm không bản quyền gây nhiều rủi ro về an toàn cho doanh nghiệp và người dùng. Ảnh minh họa

Những phần mềm bị vi phạm bản quyền nhiều nhất không gây bất ngờ. Theo dữ liệu thực thi bản quyền từ BSA và các tổ chức chống vi phạm, Microsoft Office và hệ điều hành Windows liên tục dẫn đầu danh sách phần mềm bị sử dụng trái phép với tỷ trọng lớn nhất, do vai trò nền tảng trong mọi hoạt động văn phòng. Tiếp theo là bộ công cụ thiết kế của Adobe, trong đó Photoshop nằm trong nhóm phần mềm bị "crack" nhiều nhất thế giới. AutoCAD của Autodesk, công cụ thiết yếu trong ngành kiến trúc, xây dựng và kỹ thuật, cũng nằm trong nhóm đầu.

Tại Việt Nam, bức tranh tương tự khi văn phòng các DN phổ biến sử dụng bản Windows và Office không bản quyền, trong khi các công ty thiết kế, quảng cáo và xây dựng thường xuyên vận hành trên phần mềm Adobe và AutoCAD lậu.

Một chi tiết đáng chú ý từ chiến dịch thực thi bản quyền năm 2019 của BSA cho thấy mức độ trì trệ trong nhận thức DN Việt: trong khi các công ty tại Indonesia, Philippines và Thái Lan hợp pháp hóa phần mềm cho khoảng 6.000 máy tính, thì con số như vậy tại Việt Nam chỉ dừng ở mức 200.

Cái giá của phần mềm lậu không chỉ nằm ở tiền phạt. Lớp rủi ro đầu tiên và thường bị bỏ qua là an ninh mạng. Theo BSA, cứ 3 lần cài đặt phần mềm không bản quyền thì có một lần đi kèm mã độc (malware). Phần mềm lậu không thể nhận các bản vá bảo mật từ nhà phát triển, biến mỗi máy tính sử dụng nó thành một lỗ hổng thường trực trong hệ thống mạng DN.

Thiệt hại toàn cầu

Theo báo cáo của IBM năm 2024, chi phí trung bình cho một vụ rò rỉ dữ liệu trên toàn cầu là 4,88 triệu USD, mức cao nhất từ trước đến nay. Tính tổng thể, chi phí xử lý mã độc liên quan đến phần mềm không bản quyền tiêu tốn của DN toàn cầu khoảng 359 tỷ USD mỗi năm.

Với các DN Việt Nam, rủi ro này đặc biệt nghiêm trọng khi nhận thức về an ninh mạng còn thấp. Một bản Windows lậu không được cập nhật bản vá bảo mật, một bản AutoCAD crack chứa mã độc đính kèm, hay một bản Photoshop tải từ nguồn không xác định đều có thể trở thành điểm xâm nhập cho "tin tặc", dẫn đến mất dữ liệu khách hàng, rò rỉ bản vẽ thiết kế, hoặc tê liệt toàn bộ hệ thống vận hành.

Ngoài rủi ro an ninh mạng, phần mềm lậu còn kéo theo bất ổn vận hành. Các bản crack thường có độ ổn định thấp, không tương thích với các bản cập nhật mới và không được nhà phát triển hỗ trợ kỹ thuật. Đối với các DN ngành xây dựng chạy AutoCAD lậu, một file thiết kế bị hỏng có thể đồng nghĩa với việc mất toàn bộ hồ sơ dự án. Đối với công ty thiết kế sử dụng Adobe crack, một lần xung đột hệ thống có thể khiến toàn bộ quy trình sản xuất ngưng trệ mà không có kênh hỗ trợ nào để khắc phục.

Lớp rủi ro nghiêm trọng nhất hiện nay là pháp lý. Theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi ngày 25/6/2025), pháp nhân thương mại vi phạm bản quyền phần mềm trong quy mô thương mại có thể bị phạt tiền từ 300 triệu đến 1 tỷ đồng ở khung cơ bản. Đối với trường hợp vi phạm có tổ chức, phạm tội nhiều lần hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, mức phạt tăng lên từ 1 tỷ đến 3 tỷ đồng, hoặc đình chỉ hoạt động từ 6 tháng đến 2 năm. Hình phạt bổ sung bao gồm cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực, hoặc cấm huy động vốn từ 1 đến 3 năm. Mức độ nghiêm trọng có thể đối mặt với hình phạt tù lên đến 3 năm kèm phạt bổ sung đến 200 triệu đồng.

Việt Nam từng rất kiên quyết xử lý các trường hợp vi phạm bản quyền phần mềm. Năm 2022, TAND tỉnh Bình Dương (cũ) tuyên bồi thường 4,6 tỷ đồng (khoảng 185.000USD) thiệt hại vật chất trong một vụ vi phạm bản quyền phần mềm, gấp 65 lần mức xử phạt hành chính tối đa.

Ở góc nhìn rộng hơn, vi phạm bản quyền phần mềm gây thiệt hại ước tính khoảng 46 tỷ USD mỗi năm cho ngành công nghiệp phần mềm toàn cầu, theo BSA. Revenera, công ty chuyên về quản lý tuân thủ bản quyền, ước tính riêng 20 thị trường vi phạm nhiều nhất thế giới đại diện cho 18,7 tỷ USD doanh thu bản quyền tiềm năng bị mất trong năm 2025, tăng 2,5 tỷ USD so với năm trước.

Các công ty chịu thiệt hại nặng nhất, Microsoft, Adobe và Autodesk, không đứng yên. BSA, tổ chức đại diện quyền lợi của các hãng phần mềm lớn nhất thế giới, đã phối hợp với Cục Bản quyền tác giả Việt Nam và Thanh tra Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch từ năm 2008 để triển khai các chiến dịch thực thi quyền SHTT. Mô hình phổ biến hiện nay không phải kiện tụng mà là chuyển đổi, bằng cách tiếp cận các DN vi phạm, cảnh báo, đàm phán và thuyết phục họ mua bản quyền hợp pháp.

Thiệt hại lớn nhất không nằm ở từng DN riêng lẻ mà ở vị thế thương mại của cả quốc gia. Việt Nam đang định vị là điểm đến hàng đầu trong chiến lược các tập đoàn đa quốc gia muốn đa dạng hóa chuỗi cung ứng. Thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đòi hỏi một môi trường pháp lý đáng tin cậy, trong đó bảo vệ quyền SHTT là trụ cột cốt lõi. Việc bị USTR lần đầu tiên xếp Việt Nam vào nhóm "Quốc gia ưu tiên đặc biệt" (Priority Foreign Country - PFC), đúng vào thời điểm quan hệ thương mại Việt - Mỹ đang chịu nhiều sức ép từ thâm hụt thương mại và sức ép thuế quan, đã tạo nên những áp lực mới.

Một vấn đề khác, khi tình trạng vi phạm bản quyền tràn lan cũng bóp nghẹt chính hệ sinh thái phần mềm nội địa. Khi tâm lý "xài chùa" thống trị thị trường, các DN phát triển phần mềm trong nước không thể thương mại hóa sản phẩm một cách công bằng, vì sản phẩm có thể bị sao chép và phân phối lậu ngay khi ra mắt. Nguồn thu bản quyền bị triệt tiêu đồng nghĩa với việc triệt tiêu động lực tái đầu tư vào nghiên cứu và phát triển.

Đối với hàng chục nghìn DN Việt Nam vẫn đang vận hành trên nền các phần mềm lậu, bài toán chi phí đã thay đổi hoàn toàn. Một bản quyền Microsoft Office 365 cho DN có giá khoảng vài triệu đồng mỗi năm. Một vụ kiện bồi thường bản quyền có thể lên đến hàng tỷ đồng, kèm nguy cơ bị xử lý hình sự. Một cuộc tấn công ransomware khai thác lỗ hổng từ phần mềm không được vá có thể xóa sổ toàn bộ dữ liệu vận hành. Và ở tầm quốc gia, thói quen "xài chùa" đang đặt cả nền kinh tế vào tầm ngắm thương mại của các đối tác thương mại, đặc biệt là với Mỹ.

THÙY LINH

Nguồn CA TP.HCM: http://congan.com.vn/an-ninh-kinh-te/siet-chat-ban-quyen-canh-bao-cho-doanh-nghiep-xai-chua-phan-mem_193838.html