Siết chặt bảo vệ môi trường các KCN, CCN và làng nghề
Trước sức ép của tốc độ đô thị hóa và yêu cầu phát triển bền vững, tỉnh Thanh Hóa đang triển khai nhiều biện pháp kiểm soát xả thải và bảo vệ môi trường (BVMT) tại các khu công nghiệp (KCN), cụm công nghiệp (CCN), làng nghề. Điều đó, buộc các KCN, CCN và các địa phương có làng nghề phải nỗ lực chuẩn hóa hệ thống xử lý nước thải, nâng cao chỉ số xanh.

KCN Lễ Môn tiên phong đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn.
Theo Quy hoạch tỉnh thời kỳ 2021-2030, Thanh Hóa đang hướng tới một diện mạo công nghiệp khổng lồ với “hạt nhân” là Khu Kinh tế Nghi Sơn và hệ thống 19 KCN. Dự kiến đến sau năm 2030, tổng diện tích đất công nghiệp sẽ cán mốc hơn 6.800ha. Đến thời điểm hiện tại có 4 KCN đang hoạt động, bao gồm KCN Bỉm Sơn, KCN Lễ Môn, KCN Đình Hương - Tây Bắc Ga, KCN Hoàng Long.
Sức hút của Khu Kinh tế Nghi Sơn và các KCN của Thanh Hóa đã được minh chứng qua con số 733 dự án đầu tư, trong đó có 75 dự án đầu tư nước ngoài, tạo sinh kế cho hơn 100.000 lao động trong và ngoài tỉnh. Tuy nhiên, việc giải “bài toán” về BVMT tại các KCN chưa bao giờ là dễ dàng. Để không biến các KCN thành “điểm đen” xả thải, Thanh Hóa đã đặt việc hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật môi trường làm điều kiện tiên quyết. Hiện nay, KCN Lễ Môn và KCN Bỉm Sơn đã tiên phong đưa vào vận hành hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt chuẩn. Đồng thời, KCN Hoàng Long hay KCN Lam Sơn - Sao Vàng cũng đang ráo riết hoàn thiện các trạm xử lý nước thải hiện đại. Quan điểm của tỉnh rất rõ ràng, doanh nghiệp chỉ được phép hoạt động khi dòng nước thải chảy ra môi trường đã được “làm sạch” qua hệ thống lắng lọc hiện đại.
Khác với các KCN, công tác BVMT tại các CCN, làng nghề trên địa bàn tỉnh có phần nan giải hơn do đặc thù phân tán và quy mô nhỏ lẻ. Tuy nhiên, nhìn vào thực tế, việc BVMT tại các CCN, làng nghề đang có những chuyển biến tích cực. Với mục tiêu phát triển 115 CCN vào năm 2030, tỉnh đã bắt đầu gặt hái những quả ngọt đầu tiên. Những cái tên như CCN Bắc Hoằng Hóa, CCN Thái - Thắng, CCN Quán Lào không chỉ hoàn thành hạ tầng kỹ thuật, mà còn thiết lập hệ thống xử lý nước thải và truyền số liệu quan trắc về Sở Nông nghiệp và Môi trường để giám sát 24/7. Bên cạnh đó, các CCN như Vạn Hà, Tượng Lĩnh, Đông Văn... cũng đang trong giai đoạn xây dựng, lắp đặt máy móc thiết bị và vận hành thử nghiệm hệ thống xử lý nước thải, sẵn sàng cho một chu kỳ sản xuất xanh, bền vững.
Hiện nay, toàn tỉnh có 31 làng nghề và 61 làng nghề truyền thống đã được công nhận, chủ yếu tập trung vào những nhóm nghề, như: Chiếu cói, mây tre đan, nghề mộc, chế biến thủy hải sản, rèn, đúc đồng, nem giò chả... Đến thời điểm hiện tại, 100% làng nghề, làng nghề truyền thống đã xây dựng phương án BVMT theo quy định. Điểm sáng là nhiều địa phương đã thành lập các tổ tự quản về BVMT làng nghề và đầu tư hạ tầng hệ thống thoát nước. Đồng thời, thực hiện công tác thu gom, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, rác thải là vỏ bao bì, hóa chất bảo vệ thực vật sau sử dụng... Các hộ sản xuất trong làng nghề đã chủ động xây dựng các công trình thu gom, xử lý nước thải phát sinh trong quá trình hoạt động. Một số làng nghề có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, như: Làng nghề chế tác đá mỹ nghệ, làng nghề chế biến nông, lâm thủy sản. Những năm gần đây, các làng nghề trên cũng được tỉnh quan tâm hỗ trợ kinh phí để đầu tư xây dựng hệ thống thu gom, thoát nước thải. Sự chuyển biến còn đến từ chính người dân khi nhiều hộ gia đình, doanh nghệp, HTX đã mạnh dạn đầu tư máy móc hiện đại, trang thiết bị hiện đại đưa vào sản xuất nhằm kiểm soát, giảm thiểu ô nhiễm môi trường làng nghề.
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển kinh tế - xã hội, công tác BVMT tại các KCN, CCN, làng nghề đã được tỉnh quan tâm, ban hành nhiều văn bản chỉ đạo nhằm nâng cao năng lực, hiệu quả quản lý BVMT. Nhờ làm tốt công tác tuyên truyền sâu rộng, nhận thức về BVMT của các địa phương, đơn vị và Nhân dân đã có những chuyển biến rõ nét. Bên cạnh đó, công tác thanh tra, kiểm tra, đôn đốc, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về BVMT tại các cơ sở, doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh được thực hiện thường xuyên, giúp nhận diện và giải quyết dứt điểm các “điểm nóng” ngay từ khi mới phát sinh. Đặc biệt, việc khánh thành và đưa vào vận hành hàng loạt dự án xử lý nước thải tập trung tại các KCN, CCN và làng nghề đã tạo ra “lá chắn” BVMT hiệu quả. Những nỗ lực ấy được hiện diện qua kết quả quan trắc không khí định kỳ tại các KCN, CCN và làng nghề đều duy trì ổn định trong giới hạn cho phép, đảm bảo hài hòa giữa phát triển công nghiệp và môi trường sống.
Việc chủ động đầu tư hạ tầng xử lý nước thải và siết chặt công tác BVMT các KCN, CCN, làng nghề trên tinh thần kỷ cương, thượng tôn pháp luật là “chìa khóa” để tỉnh giải bài toán giữa môi trường và phát triển kinh tế. Những tín hiệu tích cực từ kết quả quan trắc không khí và nước thải ở các KCN, CCN, làng nghề trên địa bàn tỉnh thời gian qua là minh chứng cho một hướng đi đúng đắn, phát triển kinh tế gắn liền với trách nhiệm BVMT.












