'Siết' liêm chính học thuật, quản lý việc sử dụng AI trong trường đại học
Thông tư 49/2026/TT-BGDĐT có hiệu lực từ ngày 15/8, các trường đại học đang "siết" liêm chính học thuật, hướng dẫn sử dụng AI có trách nhiệm.

Phân hiệu Trường ĐH Bình Dương tại Cà Mau tổ chức Tọa đàm "Ứng dụng trí tuệ nhân tạo đổi mới phương pháp giảng dạy". Ảnh: QM.
Thông tư 49/2026/TT-BGDĐT đặt ra những yêu cầu mới về ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI) trong giáo dục. Các trường đại học đang chủ động hoàn thiện quy định nội bộ, đổi mới kiểm tra, đánh giá nhằm phát huy lợi ích của AI nhưng vẫn bảo đảm năng lực thực chất và liêm chính học thuật của người học.
Không cấm AI, nhưng phải rõ ranh giới
TS Nguyễn Hữu Thọ, Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang cho biết, nhà trường xác định Thông tư 49/2026/TT-BGDĐT là cơ sở quan trọng để từng bước hoàn thiện các quy định về sử dụng AI trong đào tạo, kiểm tra, đánh giá và nghiên cứu khoa học. Quan điểm của nhà trường không phải là cấm giảng viên, sinh viên sử dụng AI, mà hướng dẫn sử dụng công cụ này đúng mục đích, có trách nhiệm và bảo đảm liêm chính học thuật.
Trước mắt, Trường Đại học Kiên Giang rà soát, cập nhật các quy chế liên quan đến đào tạo, kiểm tra - đánh giá, nghiên cứu khoa học, đề tài tốt nghiệp, khóa luận, công bố khoa học và công tác sinh viên để bổ sung nội dung về sử dụng AI.
Nhà trường dự kiến quy định rõ việc khai báo việc sử dụng AI đối với những bài tập, khóa luận, đề tài hoặc sản phẩm học thuật thuộc diện phải công khai; hướng dẫn cách sử dụng AI để tìm kiếm ý tưởng, phân tích tài liệu, hỗ trợ ngôn ngữ, xử lý dữ liệu, lập trình, mô phỏng… nhưng người học phải tự kiểm chứng và chịu trách nhiệm về sản phẩm cuối cùng.
Theo TS Nguyễn Hữu Thọ, vấn đề cốt lõi không phải là “có sử dụng AI hay không”, mà là sử dụng AI vào việc gì, ở mức độ nào, có minh bạch hay không và người học có thực sự hiểu, kiểm chứng, chịu trách nhiệm về sản phẩm hay không.

TS Nguyễn Hữu Thọ, Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang. Ảnh: KGU.
“AI được phép hỗ trợ quá trình học tập và nghiên cứu, nhưng không được thay thế năng lực, trách nhiệm và sản phẩm trí tuệ của người học”, TS Nguyễn Hữu Thọ nhấn mạnh.
Cùng quan điểm, TS Trịnh Huỳnh An, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Bình Dương, Giám đốc Phân hiệu tại Cà Mau (BDU Cà Mau), cho biết nhà trường khuyến khích sử dụng AI như một công cụ hỗ trợ, nhưng không thay thế năng lực và trách nhiệm của giảng viên, sinh viên.
Theo TS Trịnh Huỳnh An, quan điểm của BDU Cà Mau là không chạy theo công nghệ mà tập trung ứng dụng công nghệ và AI vào những khâu tạo ra giá trị thực. Hiệu quả quản lý và chất lượng đào tạo, giảng dạy, học tập của người học là thước đo quan trọng nhất của quá trình chuyển đổi số.
Trong khi đó, tại Trường Đại học Bạc Liêu, một lãnh đạo nhà trường cho biết thời gian tới sẽ xây dựng quy chế và bộ quy tắc nội bộ, hướng dẫn rõ phạm vi được phép và không được phép sử dụng AI đối với giảng viên, người học. Trong đó, AI được xác định là công cụ tham khảo, hỗ trợ, tuyệt đối không thay thế vai trò sư phạm của giảng viên hay năng lực tư duy của người học.
Như vậy, điểm chung trong cách tiếp cận của các trường là không phủ nhận vai trò của AI nhưng phải xác lập rõ giới hạn sử dụng, nhất là trong những hoạt động nhằm đánh giá năng lực cá nhân.
TS Nguyễn Hữu Thọ cho rằng, sinh viên có thể sử dụng AI để giải thích một khái niệm khó, gợi ý cấu trúc bài viết, tìm từ khóa hay tổng hợp ý tưởng. Tuy nhiên, nếu giao toàn bộ nhiệm vụ cho AI rồi nộp sản phẩm như kết quả do mình tự thực hiện, đặc biệt với những nhiệm vụ đánh giá năng lực cá nhân, thì ranh giới đã bị vượt qua.
Các hành vi sử dụng AI để gian lận trong kiểm tra, đánh giá hoặc nghiên cứu; sao chép, đạo văn; làm sai lệch dữ liệu; nhờ AI thực hiện thay nhiệm vụ học tập hoặc không công khai việc sử dụng AI khi có yêu cầu đều có thể dẫn đến vi phạm liêm chính học thuật.
Đổi cách đánh giá để đo năng lực thật
Theo Hiệu trưởng Trường Đại học Kiên Giang, việc triển khai Thông tư 49 cũng đặt ra yêu cầu nhà trường đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra và đánh giá sinh viên nhằm hạn chế tình trạng lạm dụng AI. Giảng viên được khuyến khích chuyển từ những bài tập mà AI có thể dễ dàng tạo ra sang các nhiệm vụ yêu cầu sinh viên vận dụng kiến thức vào tình huống thực tế, phân tích, phản biện và tạo ra sản phẩm cụ thể.
Nhà trường cũng định hướng tăng tỷ trọng đánh giá quá trình; kết hợp bài tập, dự án, sản phẩm thực hành, thuyết trình, vấn đáp và đánh giá khả năng giải thích, phản biện, bảo vệ sản phẩm. Các phiên bản bài làm, nhật ký học tập hoặc hồ sơ học tập điện tử cũng có thể được sử dụng để theo dõi quá trình hình thành sản phẩm.

Thông tư 49/2026/TT-BGDĐT đặt ra yêu cầu nhà trường đổi mới phương pháp giảng dạy, kiểm tra và đánh giá. Ảnh: KGU.
“Cách làm này đặc biệt phù hợp với định hướng đào tạo ứng dụng của Trường Đại học Kiên Giang. Mục tiêu cuối cùng vẫn là năng lực thực hành và khả năng giải quyết vấn đề thực tế của sinh viên”, TS Nguyễn Hữu Thọ cho hay.
Tại Phân hiệu Trường Đại học Bình Dương ở Cà Mau, chuyển đổi số cũng được xác định là một trong những nhiệm vụ trọng tâm, nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, giảng dạy và học tập. Trong đó, AI đang từng bước được đưa vào công tác quản lý, xây dựng học liệu, thiết kế bài giảng, nghiên cứu khoa học và hỗ trợ sinh viên tự học.
TS Trịnh Huỳnh An cho biết hướng đổi mới kiểm tra, đánh giá của BDU Cà Mau cũng tập trung vào tăng đánh giá quá trình, thuyết trình, vấn đáp, thực hành và các sản phẩm gắn với thực tiễn. Trong đó, giảng viên vẫn giữ vai trò quyết định trong việc đánh giá năng lực và kết quả học tập của sinh viên. Qua đó đánh giá đúng năng lực người học, hạn chế gian lận và sự phụ thuộc vào AI.

Sinh viên thuyết trình Dự án Cà Mau AI Tour - hệ thống Hướng dẫn viên ảo du lịch. Ảnh: QM.
Đối với những kỳ kiểm tra cần đánh giá chính xác năng lực cá nhân, Trường Đại học Kiên Giang dự kiến tăng cường hình thức kiểm tra trực tiếp, kiểm soát điều kiện thi và áp dụng các giải pháp công nghệ phù hợp.
Cách tiếp cận này cũng được Trường Đại học Bạc Liêu chú trọng khi nhà trường dự kiến kiểm soát chặt việc sử dụng AI trong thi cử, kiểm tra và làm bài tập; đồng thời áp dụng chế tài xử lý nghiêm minh với các hành vi gian lận học thuật hoặc lạm dụng công nghệ số.
Trang bị kỹ năng để sử dụng AI có trách nhiệm
Bên cạnh đổi mới kiểm tra, đánh giá, các trường đại học cho rằng việc nâng cao năng lực sử dụng AI cho cả giảng viên và sinh viên là yếu tố quan trọng để hạn chế lạm dụng công nghệ.
TS Trịnh Huỳnh An thông tin, BDU Cà Mau sẽ rà soát và hoàn thiện các quy định về sử dụng AI trong quản trị, giảng dạy, nghiên cứu khoa học và học tập. Nhà trường tăng cường tập huấn cho giảng viên và sinh viên về kỹ năng sử dụng AI, kiểm chứng thông tin, trích dẫn nguồn và bảo vệ bản quyền; đồng thời chú trọng nâng cao nhận thức về bảo mật dữ liệu, đạo đức trong sử dụng công nghệ và trách nhiệm đối với sản phẩm học thuật.
Tại Trường Đại học Kiên Giang, theo TS Nguyễn Hữu Thọ, nhà trường sẽ triển khai theo phương châm “AI hỗ trợ con người, không thay thế con người”. Một trong những giải pháp trọng tâm là trang bị năng lực AI cho giảng viên và sinh viên. Không chỉ hướng dẫn cách sử dụng ChatGPT hay các công cụ AI, mà cần trang bị năng lực xác minh thông tin, viết câu lệnh, đánh giá kết quả AI, nhận diện thông tin sai, bảo vệ dữ liệu và sử dụng AI có đạo đức.
Đồng thời, nhà trường chú trọng giáo dục đạo đức học thuật, bản quyền, trích dẫn nguồn, bảo vệ dữ liệu cá nhân và trách nhiệm khi sử dụng AI. Đối với nghiên cứu khoa học, người thực hiện phải đặc biệt lưu ý nguy cơ AI tạo ra thông tin hoặc tài liệu tham khảo không chính xác.
Trong khi đó, Trường Đại học Bạc Liêu dự kiến yêu cầu giảng viên, người học công khai, minh bạch việc sử dụng AI, trích dẫn nguồn rõ ràng; đồng thời phát triển năng lực số, nâng cao kỹ năng sử dụng AI an toàn, có trách nhiệm, bảo vệ dữ liệu cá nhân và tuân thủ quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với học liệu số.
Thực tế triển khai tại các cơ sở giáo dục đại học cho thấy, trước sự phát triển nhanh của AI, tư duy “cấm sử dụng” đang dần chuyển sang “quản lý và hướng dẫn sử dụng”. AI được nhìn nhận như công cụ hỗ trợ quan trọng trong học tập, giảng dạy và nghiên cứu, nhưng không thể thay thế tư duy độc lập, năng lực chuyên môn và trách nhiệm của người học.
Điều quan trọng không phải là sinh viên sử dụng AI nhiều hay ít, mà là biết sử dụng đúng mục đích, minh bạch, có trách nhiệm và không đánh mất năng lực của chính mình.



