Sự cần thiết sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở trong giai đoạn phát triển mới

Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 và các văn bản hướng dẫn thi hành đã tạo nền tảng pháp lý vững chắc cho hoạt động hòa giải ở cơ sở đi vào nề nếp, thống nhất, hiệu quả; khẳng định vị trí, vai trò của hòa giải trong phòng ngừa và giải quyết xung đột xã hội. Tuy nhiên, trước những biến đổi của thực tiễn, việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở là cần thiết.

Nâng cao trách nhiệm của đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn - Ảnh minh họa

Nâng cao trách nhiệm của đội ngũ hòa giải viên ở cơ sở đáp ứng yêu cầu thực tiễn - Ảnh minh họa

Thể chế hóa các chủ trương, đường lối của Đảng

Trong bối cảnh xã hội đang chuyển mình mạnh mẽ, cùng với đó, các mâu thuẫn, tranh chấp trong đời sống dân sự, hôn nhân-gia đình, đất đai, tiêu dùng… cũng có xu hướng gia tăng cả về số lượng và mức độ phức tạp. Thực tiễn này đòi hỏi phải có những cơ chế giải quyết tranh chấp linh hoạt, kịp thời, phù hợp với điều kiện thực tế của từng cộng đồng dân cư, trong đó hòa giải ở cơ sở giữ vai trò đặc biệt quan trọng.

Chính vì vậy, Kết luận số 13-KL/TW ngày 16/8/2021 của Bộ Chính trị về việc tiếp tục thực hiện Chỉ thị số 48-CT/TW ngày 22/10/2010 của Bộ Chính trị khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tội phạm trong tình hình mới đã nhấn mạnh yêu cầu phát hiện và giải quyết sớm các xung đột xã hội, coi đây là giải pháp quan trọng trong công tác phòng ngừa tội phạm và giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.

Song song với yêu cầu đó, nhiệm vụ xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn mới cũng đặt ra những đòi hỏi ngày càng cao đối với hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật về hòa giải ở cơ sở nói riêng. Nghị quyết số 27-NQ/TW đã xác định rõ định hướng hoàn thiện pháp luật theo hướng dân chủ, minh bạch, lấy người dân làm trung tâm, đồng thời phát huy vai trò của các cơ chế xã hội, đạo đức và tự quản cộng đồng trong điều chỉnh các quan hệ xã hội.

Tiếp nối tinh thần này, Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đã đề ra nhiệm vụ, giải pháp đổi mới tư duy, định hướng xây dựng pháp luật: "Các quy định của luật phải mang tính ổn định, đơn giản, dễ thực hiện, lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm"; "Kết hợp các phương thức phi tố tụng tư pháp với các phương thức tố tụng tư pháp;..."; "Khẩn trương sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật đáp ứng yêu cầu thực hiện chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, sắp xếp đơn vị hành chính, gắn với phân cấp, phân quyền tối đa".

Như vậy, Nghị quyết số 66-NQ/TW đã nhấn mạnh yêu cầu xây dựng các quy định pháp luật ổn định, đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với thực tiễn biến động nhanh chóng của đời sống xã hội, kết hợp hài hòa giữa các phương thức phi tố tụng và tố tụng tư pháp.

Bên cạnh đó, Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng xác định "Nâng cao hiệu quả các cơ chế giải quyết tranh chấp ngoài Tòa án" là một trong những giải pháp nhằm tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trong khi đó, quá trình chuyển đổi số quốc gia đang mở ra những yêu cầu và cơ hội mới đối với hoạt động quản lý nhà nước và cung ứng dịch vụ công. Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia và Kết luận số 121-KL/TW ngày 24/01/2025 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về tổng kết Nghị quyết số 18-NQ/TW về sắp xếp tinh gọn tổ chức bộ máy đã chỉ rõ yêu cầu ứng dụng mạnh mẽ khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trong hoạt động của các cơ quan trong hệ thống chính trị, cải cách tổ chức bộ máy, đổi mới phương thức phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Điều này đặt ra yêu cầu tất yếu đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở phải từng bước đổi mới phương thức tổ chức và hoạt động, vượt ra khỏi khuôn khổ truyền thống dựa hoàn toàn vào giấy tờ, gặp mặt trực tiếp, để thích ứng với môi trường số và nhu cầu ngày càng đa dạng của xã hội.

Tạo sự đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật

Quốc hội ban hành Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 đã xác lập mô hình chính quyền địa phương hai cấp, kéo theo sự thay đổi căn bản về phân cấp, phân quyền và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước ở địa phương. Trong bối cảnh đó, một số quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở liên quan đến thẩm quyền, trách nhiệm của chính quyền cấp huyện, cấp xã không còn phù hợp, đòi hỏi phải được sửa đổi, bổ sung để bảo đảm tính liên tục, thông suốt trong tổ chức và hoạt động của công tác hòa giải.

Bên cạnh đó, sự ra đời và sửa đổi của nhiều đạo luật quan trọng như Bộ luật Tố tụng dân sự, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình, Luật Hòa giải, đối thoại tại Tòa án, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Ngân sách nhà nước, Luật Giao dịch điện tử… đã làm xuất hiện những yêu cầu mới đối với hoạt động hòa giải ở cơ sở, từ nội dung hòa giải, phương thức tiến hành cho đến trách nhiệm của các cơ quan trong công tác hòa giải ở cơ sở. Nếu không được kịp thời sửa đổi, Luật Hòa giải ở cơ sở sẽ khó bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với hệ thống pháp luật hiện hành.

Khắc phục những hạn chế, bất cập của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013

Đội ngũ hòa giải viên ở nhiều địa phương, nhất là vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số, còn hạn chế về kiến thức pháp luật và kỹ năng hòa giải; đồng thời, chưa thu hút được nhiều người có trình độ pháp luật, kinh nghiệm tham gia hòa giải.

Thực trạng này không chỉ xuất phát từ điều kiện thực tiễn mà còn có nguyên nhân từ quy định của Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013, khi các quy định về quyền, nghĩa vụ của hòa giải viên còn chưa bao quát đầy đủ, chưa có quy định rõ ràng về quyền của người được mời tham gia hòa giải.

Ngoài ra, phương thức hòa giải vẫn chủ yếu thực hiện theo cách thức truyền thống, chưa có cơ sở pháp lý cho việc triển khai hòa giải trực tuyến, lập biên bản điện tử, sử dụng chữ ký số, lưu trữ và khai thác dữ liệu hòa giải phục vụ công tác quản lý, thống kê và hoạch định chính sách.

Đáng chú ý hơn, Luật Hòa giải ở cơ sở hiện hành chưa quy định rõ ràng về giá trị pháp lý của kết quả hòa giải thành. Trên thực tế, không ít trường hợp sau khi hòa giải thành, các bên không thực hiện thỏa thuận, trong khi hòa giải viên và tổ hòa giải không có cơ chế pháp lý để bảo đảm thực hiện, làm giảm hiệu quả thực chất của hoạt động hòa giải và ảnh hưởng đến niềm tin của người dân.

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng, việc sửa đổi toàn diện Luật Hòa giải ở cơ sở năm 2013 là yêu cầu khách quan, cấp thiết, xuất phát từ cả cơ sở chính trị, pháp lý và thực tiễn. Việc sửa đổi không chỉ nhằm khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành, mà còn nhằm thể chế hóa đầy đủ, kịp thời các chủ trương, đường lối của Đảng về phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền, đẩy mạnh cải cách hành chính và chuyển đổi số; đồng thời, tạo lập khuôn khổ pháp lý đầy đủ, thống nhất, hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả và tính bền vững của công tác hòa giải ở cơ sở trong giai đoạn phát triển mới của đất nước.

Theo baochinhphu.vn

Nguồn Lạng Sơn: https://baolangson.vn/su-can-thiet-sua-doi-toan-dien-luat-hoa-giai-o-co-so-trong-giai-doan-phat-trien-moi-5083572.html