Sử đá trong đình
VHXQ - Đình làng Việt vẫn còn lưu giữ những trang sử đá hình thành và tồn tại hàng trăm năm.

Một góc đình làng. Ảnh: PHƯƠNG THẢO
Chứng tích văn hóa
Từ thập niên 40 thế kỷ 20, Viện Viễn đông Bác cổ Pháp đã tiến hành in rập hàng chục văn bia đình làng đất Quảng. Về sau, nhiều văn bia thực địa ấy không tồn tại do các nguyên nhân chủ quan và khách quan. Một số văn bia thực địa khác vẫn còn nhưng ngày càng mòn mờ, khó đọc.
Một số văn bia đã được in rập thời kỳ ấy như Bất Nhị xã đình bi (niên đại 1832), Bình Long xã đình bi chí (1916), Câu Nhi xã đình bi (1882), Dưỡng Mông xã đình bi (1826), Lệ Trạch xã đình bi (1897), Lỗ Giản cải lương bi (1931), Trùng tu công đình bi ký ở La Tháp (1754)…

Bản chép tay bia đình Hải Châu, bút tích cố NGƯT Nguyễn Đình Thảng.
Những văn bia thực địa hiện còn trên địa bàn Đà Nẵng (cũ) như bia đình Bồ Bản thời Tự Đức thứ 5 (1852), 3 bia đình Hải Châu (1 bia thời Tự Đức thứ 14 - 1861, 2 bia thời Bảo Đại thứ 1 - 1926), bia đình Hưởng Phước thời Duy Tân thứ 5 (1911), 3 bia đình Mỹ Khê, bia đình Thạch Nham năm 1885, bia đình Thái Lai (1849), bia đình Túy Loan thời Thành Thái thứ 1 (1898), 2 bia đình Xuân Lộc thời Bảo Đại thứ 3 (1928)…
Niên đại văn bia là một minh chứng về việc xác định thời điểm xây dựng hoặc trùng tu đình làng. Niên đại văn bia đình làng sớm nhất hiện biết là năm 1754. Đình làng La Tháp (ở Duy Xuyên) là một trong những ngôi đình xuất hiện sớm ở đất Quảng - năm 1670.
Tác giả soạn thảo văn bia cũng là một chứng tích văn hóa. Dựa vào tác giả văn bia, ta biết được những danh thần, quan lại, văn nhân từng lưu dấu ở vùng đất Quảng xưa. Văn bia đình Hải Châu Tập thiện hội bi do Binh bộ Lang trung Nguyễn Công Bang soạn, bia đình Túy Loan do Nguyễn Khuê, đỗ Tiến sĩ Tam giáp khoa Kỷ Sửu, quê Thanh Trì - Hà Nội soạn…
Ký ức nơi đình
Văn bia Lỗ Giản (nay gọi Lỗ Giáng) ghi rằng: “Chư quý công tiền hiền làng ta là 5 tộc họ Dương, Hồ, Lê, Nguyễn, Phạm vốn từ phương Bắc theo nhà vua đến phương Nam lập nên làng xã”.

Thác bản bia đình La Tháp niên đại 1754
Bia đình La Tháp minh chứng sự cộng cư giữa người Việt và người Minh Hương. Bia đình Bất Nhị kể rõ quá trình lập làng: “Xưa xã ta vốn có 9 tộc họ cùng xây dựng địa phận làm thành xã Bất Nhị, đất đai mở rộng, dân đinh thêm đông, làm nên 3 thôn Thai La, Đan Điền, Bình Trị trong xã Bất Nhị”.
Bia đình La Tháp cho biết người dân vùng đất này tự hào là “đất linh, người giỏi, tiếng đồn vang khắp châu thôn”. Đó là lý do mà “người gần lấy làm hài lòng, kẻ xa rủ nhau kéo đến”, “họp chợ đông đúc”.
Bia đình Hải Châu còn kể về việc giặc Pháp mở màn xâm lược Việt Nam: “Năm Tự Đức Mậu Ngọ, giặc tràn vào quấy nhiễu Đà Nẵng, khiến nhân dân khiếp đảm chạy tán loạn, nơi đây thành bãi chiến trường”. Đây là một bằng chứng xác thực và sống động, giúp hình dung rõ nét hơn về tính chất khốc liệt và hệ quả tức thời chiến tranh xâm lược của phương Tây ở Việt Nam.
Bia đình cũng cho biết những thông tin giá trị khác về phong tục làng xã hoặc tính cách cá nhân, như thông tin từ bia La Tháp: Khi ông Trương Văn Thắng làng An Lâm cúng đất để dựng đình thì làng An Lâm được chước miễn, khỏi quyên góp về lễ Kỳ yên và nhà họ Trương được đời đời khỏi đóng các khoản liễm phí.
“Đàn ông vui đám vui đình/ Đàn bà vui kệ, vui kinh, vui chùa”. Thế nhưng số người phụ nữ tín cúng cho đình cũng tương đối nhiều. Bia đình Bồ Bản gồm 116 họ tên người công đức thì có đến 18 người là nữ giới (chiếm 15,5%). Văn bia đình Thạch Nham còn kê ra trường hợp bà Phạm Thị Chức cúng cả đất ruộng gồm 7 thước 5 tấc...
Bia đá trong đình không chỉ là đồ thờ đơn thuần như các loại đồ thờ khác. Đây là một loại chứng tích đặc biệt của di tích đình làng, dùng để xác định gốc tích của di tích và truyền lại muôn đời sau những câu chuyện lịch sử của làng.
Nguồn Đà Nẵng: https://baodanang.vn/su-da-trong-dinh-3330590.html












