Sửa 26 nghị định để cắt giảm thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý của Bộ Xây dựng
Chính phủ ban hành Nghị định số 14/2026/NĐ-CP ngày 13/1/2026 sửa đổi, bổ sung một số điều của 26 nghị định để cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của Bộ Xây dựng.

Đơn giản hóa TTHC liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh thuộc quản lý của Bộ Xây dựng. Ảnh: VGP
Nghị định số 14/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung các nghị định theo hướng cắt giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính; chuyển một số thành phần hồ sơ phải nộp từ bản giấy sang bản điện tử; bổ sung phương thức nộp hồ sơ; phân cấp thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính; bãi bỏ hoặc sửa đổi điều kiện đầu tư kinh doanh không cần thiết, không hợp pháp được áp dụng theo hình thức giấy phép, giấy chứng nhận...
Sửa đổi điều kiện đối với tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng
Cụ thể, đối với Nghị định 62/2016/NĐ-CP về điều kiện hoạt động giám định tư pháp xây dựng và thí nghiệm chuyên ngành xây dựng (được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 35/2023/NĐ-CP), Nghị định số 14/2026/NĐ-CP đã điều chỉnh phạm vi và đối tượng áp dụng; sửa đổi về điều kiện đối với tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng và quy định về phòng thí nghiệm chuyên ngành xây dựng và trạm thí nghiệm hiện trường; đồng thời bổ sung thêm quy định về công bố công khai thông tin về năng lực hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng.
Theo quy định mới, tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng quy định tại Nghị định này là tổ chức kinh doanh dịch vụ thí nghiệm chuyên ngành xây dựng, quan trắc công trình xây dựng đáp ứng các điều kiện năng lực.
Điều kiện năng lực của tổ chức hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng bao gồm: Là tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật; đáp ứng các yêu cầu chung của tiêu chuẩn quốc gia TCVN ISO/IEC 17025:2017 hoặc tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2017 và đáp ứng các yêu cầu cụ thể phù hợp với các chỉ tiêu thí nghiệm tự công bố; người quản lý trực tiếp hoạt động thí nghiệm chuyên ngành xây dựng phải tốt nghiệp đại học chuyên ngành phù hợp với một trong các lĩnh vực thí nghiệm của tổ chức; có thí nghiệm viên phải tốt nghiệp trung học phổ thông trở lên và có văn bằng, chứng chỉ đào tạo phù hợp cho mỗi lĩnh vực thí nghiệm.
Sửa đổi quy định về đóng bến cảng, cầu cảng
Đối với Nghị định số 58/2017/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều của Bộ Luật Hàng hải Việt Nam về quản lý hoạt động hàng hải, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung về thủ tục công bố mở cảng biển, cảng dầu khí ngoài khơi và công bố đưa luồng hàng hải vào sử dụng; sửa đổi quy định về đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước...
Nghị định quy định bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước trong vùng nước cảng biển được đóng khi đáp ứng một trong các điều kiện sau đây: Bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước không còn tồn tại hoặc không đủ điều kiện hoạt động; bến cảng, cầu cảng, bến phao và khu nước, vùng nước hoạt động không hiệu quả; vì lý do bảo đảm quốc phòng, an ninh hoặc các lý do đặc biệt khác.
Chủ sở hữu thực hiện việc đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước thuộc sở hữu của mình.
Trước khi dừng khai thác bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước, chủ sở hữu có trách nhiệm thông báo bằng văn bản tới Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cảng vụ hàng hải hoặc Cảng vụ đường thủy nội địa (trực thuộc Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam) quản lý tại khu vực để phục vụ công tác quản lý.
Sau khi đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước, chủ đầu tư có trách nhiệm: Thông báo bằng văn bản tới Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam, Cảng vụ hàng hải hoặc Cảng vụ đường thủy nội địa (trực thuộc Cục Hàng hải và Đường thủy Việt Nam) quản lý tại khu vực về việc đóng bến cảng, cầu cảng, bến phao, khu nước, vùng nước (trong đó nêu rõ thời điểm đóng) và thực hiện việc tháo dỡ, thu hồi hoặc xử lý công trình và thiết bị gắn với công trình theo quy định.
Bỏ một số điều kiện đối với doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế
Nghị định số 160/2016/NĐ-CP về điều kiện kinh doanh vận tải biển, kinh doanh dịch vụ đại lý tàu biển và dịch vụ lai dắt tàu biển quy định doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế phải đáp ứng các điều kiện sau: Doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hợp tác xã (sau đây viết tắt là doanh nghiệp); được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vận tải biển khi đáp ứng điều kiện quy định.
Ngoài điều kiện trên, doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế còn phải đáp ứng các điều kiện về: Tài chính (có bảo lãnh mức tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam); tàu thuyền; tổ chức bộ máy, nhân sự.
Nay, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP quy định cắt bỏ điều kiện kinh doanh về tàu thuyền, về tổ chức bộ máy, về nhân lực. Theo đó, doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế phải đáp ứng các điều kiện sau: Doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, hợp tác xã kinh doanh vận tải biển được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật về hợp tác xã (sau đây viết tắt là doanh nghiệp); được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh vận tải biển khi đáp ứng điều kiện quy định. Đồng thời, doanh nghiệp kinh doanh vận tải biển quốc tế còn phải có bảo lãnh theo quy định của pháp luật với mức tối thiểu là 5 tỷ đồng Việt Nam hoặc mua bảo hiểm để bảo đảm nghĩa vụ của chủ tàu đối với thuyền viên theo quy định.
Ngoài ra, Nghị định số 14/2026/NĐ-CP đã bổ sung hình thức nộp hồ sơ qua hệ thống Dịch vụ công trực tuyến, giảm thời gian giải quyết thủ tục hành chính từ 12 ngày xuống còn 9 ngày; phân cấp thẩm quyền giải quyết thủ tục hành chính từ Bộ Xây dựng về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Nghị định số 14/2026/NĐ-CP cũng sửa đổi, bổ sung Nghị định số 82/2019/NĐ-CP theo hướng phân cấp thẩm quyền giải quyết 3 thủ tục hành chính (quyết định đưa cơ sở phá dỡ tàu biển vào hoạt động; quyết định dừng ngay và dừng hoạt động của cơ sở phá dỡ tàu biển) từ Cục Hàng hải Việt Nam về Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.












