Sửa chương trình và sách giáo khoa: Tinh giản nhưng không hạ chuẩn

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng cho rằng, đổi mới giáo dục là một quá trình đồng bộ: Chương trình xác định mục tiêu và yêu cầu cần đạt; sách giáo khoa, học liệu tạo điều kiện thực hiện hoạt động dạy học; phương pháp dạy học định hướng cách thức tổ chức cho học sinh hoạt động để đạt yêu cầu của chương trình; kiểm tra, đánh giá xác định mức độ đạt được. Bốn khâu phải cùng hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực của học sinh.

Sau hơn 5 năm triển khai, việc rà soát, điều chỉnh Chương trình giáo dục phổ thông (GDPT) mới ban hành năm 2018 là yêu cầu cần thiết để đáp ứng định hướng mới về phát triển giáo dục và khắc phục bất cập. Tuy nhiên, điều quan trọng không chỉ là tinh giản nội dung chương trình hay hoàn thiện bộ sách giáo khoa (SGK) thống nhất từ năm học 2028-2029 mà còn phải bảo đảm chất lượng, tính khả thi và sự đồng bộ giữa chương trình, SGK, phương pháp dạy học, kiểm tra và đánh giá. Phóng viên Báo CAND đã có cuộc trò chuyện với PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, chuyên gia phát triển chương trình giáo dục phổ thông về vấn đề này.

PV: Việc rà soát, điều chỉnh Chương trình GDPT 2018 đang được đặt ra trong bối cảnh ngành giáo dục có nhiều yêu cầu đổi mới. Theo ông, đâu là những vấn đề cần ưu tiên giải quyết?

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Việc rà soát, điều chỉnh chương trình xuất phát từ hai yêu cầu lớn. Chính từ hai yêu cầu lớn này, có thể nhận rõ những vấn đề cần ưu tiên giải quyết.

Trước hết, cần cập nhật những định hướng mới về phát triển giáo dục và đào tạo được đề ra trong Nghị quyết số 71 của Đảng: Tăng cường giáo dục toàn diện đức, trí, thể, mĩ; nâng cao năng lực khoa học, công nghệ, trí tuệ nhân tạo (AI), năng lực số và tiếng Anh; đẩy mạnh STEM/STEAM, đổi mới sáng tạo; chú trọng nghệ thuật, thể chất, hướng nghiệp. Nhiều nội dung đã có trong Chương trình 2018 nhưng cần phát triển mạnh hơn. Một số nội dung như AI, dữ liệu số, an toàn và đạo đức số chưa được thể hiện đầy đủ, có hệ thống do bối cảnh chuyển đổi số khi xây dựng chương trình còn khác hiện nay.

Yêu cầu thứ hai là nhìn lại chương trình sau một chu kì triển khai tương đối đầy đủ. Chương trình 2018 đã tạo chuyển biến tích cực, song một số nội dung chưa đạt hiệu quả như mong muốn hoặc gặp khó khăn do đội ngũ, cơ sở vật chất và cách thức tổ chức. Cần đánh giá khách quan thành tựu, hạn chế để xác định nội dung nào giữ ổn định, phát triển, điều chỉnh hoặc tinh giản. Theo tôi, nên kế thừa, phát triển chương trình hiện có và điều chỉnh những nội dung cần thiết thay vì xây dựng lại từ đầu; chương trình sau điều chỉnh phải hiện đại, linh hoạt và khả thi hơn.

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, chuyên gia phát triển chương trình giáo dục phổ thông.

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng, chuyên gia phát triển chương trình giáo dục phổ thông.

PV: Chương trình GDPT 2018 hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực người học. Việc sửa chương trình cần làm gì để tránh quay lại cách dạy thiên về truyền thụ kiến thức, thưa ông?

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Đóng góp quan trọng của Chương trình GDPT 2018 là chuyển từ giáo dục chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực. Định hướng này đã tạo chuyển biến trong biên soạn SGK, dạy học và kiểm tra, đánh giá, mặc dù mức độ thực hiện còn khác nhau giữa các môn học, địa phương và cơ sở giáo dục. Ở một số nơi, dạy học vẫn nặng truyền thụ kiến thức, luyện tập theo mẫu và kiểm tra ghi nhớ.

Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá, chứ không thay đổi định hướng phát triển phẩm chất, năng lực. Yêu cầu cần đạt phải là trung tâm chương trình. Kiến thức là nền tảng phát triển năng lực, nhưng học sinh cần được sử dụng kiến thức qua thực hành, trải nghiệm và giải quyết vấn đề. Chương trình, SGK, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá phải cùng vận hành theo định hướng đó.

PV: Một số ý kiến cho rằng, chương trình vẫn còn nặng, gây áp lực cho cả người dạy và người học. Theo ông, việc điều chỉnh cần thực hiện thế nào để “tinh giản nhưng không hạ chuẩn”?

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: “Tinh giản” không đơn giản là cắt bài hay giảm cơ học số lượng kiến thức, mà là xác định nội dung cốt lõi với học sinh phổ thông. Cần rà soát yêu cầu cần đạt, điều chỉnh yêu cầu chưa thiết yếu, chưa phù hợp lứa tuổi hoặc vượt quá khả năng thực hiện; chỉ đưa vào phần bắt buộc những nội dung nền tảng. Đồng thời, rà soát giữa các lớp, cấp học và môn học để khắc phục trùng lặp, chồng chéo.

Cần xem xét sự tương thích giữa yêu cầu cần đạt, khối lượng nội dung và thời lượng dạy học. Nếu yêu cầu quá cao, nội dung quá nhiều so với thời gian và điều kiện thực hiện thì giảm kiến thức vẫn chưa chắc giảm áp lực. Với chương trình phát triển năng lực, logic điều chỉnh phải đi từ yêu cầu cần đạt đến nội dung dạy học, không phải lập danh sách kiến thức rồi phân phối vào từng lớp. Tinh giản không đồng nghĩa hạ chuẩn. Có thể giảm kiến thức ít thiết thực nhưng nâng yêu cầu về thực hành, vận dụng, tư duy độc lập, giải quyết vấn đề và sáng tạo. Khi đó, chương trình nhẹ hơn về lượng kiến thức ghi nhớ nhưng cao hơn về chất lượng học tập.

PV: Những nội dung nào cần tinh giản, tích hợp, bổ sung hoặc sắp xếp lại? Nội dung nào cần giữ ổn định để bảo đảm tính kế thừa, thưa ông?

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Hiện chưa thể khẳng định môn học nào sẽ tăng, giảm hoặc nội dung nào chuyển lớp, bởi chương trình đang trong quá trình rà soát. Các phương án cần được nghiên cứu, tham vấn, đánh giá tác động trước khi trình cấp có thẩm quyền. Những nội dung nền tảng về đạo đức, văn hóa, ngôn ngữ, toán học, khoa học, công nghệ, nghệ thuật, thể chất… cần tiếp tục được bảo đảm. Mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực và cấu trúc hai giai đoạn giáo dục cơ bản, giáo dục định hướng nghề nghiệp cũng cần được kế thừa.

Đồng thời, cần cập nhật khoa học, công nghệ, AI, năng lực số, STEM/STEAM, ngoại ngữ và đổi mới sáng tạo; quan tâm hơn đến nghệ thuật, thể chất, hướng nghiệp. Không thể bổ sung nhiều yêu cầu mới trong khi giữ nguyên toàn bộ nội dung cũ. Mỗi nội dung mới phải được cân nhắc trong tổng thể thời lượng, đồng thời xác định nội dung có thể tích hợp, thay thế hoặc tinh giản. Cũng không nên cứ có yêu cầu giáo dục mới là lập thêm môn học; có thể tích hợp vào môn hiện có hoặc triển khai qua hoạt động giáo dục, dự án và môi trường học tập số.

Với những nội dung còn bất cập như hoạt động trải nghiệm, hướng nghiệp, giáo dục địa phương hay các môn tích hợp ở THCS, cần đánh giá hiệu quả thực tế, nhất là khả năng bố trí giáo viên và điều kiện tổ chức dạy học.

Chương trình GDPT 2018 sẽ cập nhật khoa học công nghệ, AI, ngoại ngữ và đổi mới sáng tạo; quan tâm nhiều hơn đến nghệ thuật, thể chất và hướng nghiệp cho học sinh.

Chương trình GDPT 2018 sẽ cập nhật khoa học công nghệ, AI, ngoại ngữ và đổi mới sáng tạo; quan tâm nhiều hơn đến nghệ thuật, thể chất và hướng nghiệp cho học sinh.

PV: Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Bộ GD&ĐT sẽ hoàn thiện bộ SGK mới sử dụng thống nhất từ năm học 2028 – 2029 trên cơ sở chương trình được rà soát, cập nhật, bổ sung. Ông nhìn nhận thế nào về chủ trương này và những thách thức đặt ra?

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Đây là chủ trương quan trọng, góp phần thực hiện Nghị quyết số 71 về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo. Tuy nhiên, hoàn thiện bộ SGK thống nhất từ năm học 2028-2029 cũng là thách thức lớn. Chương trình không xây dựng mới từ đầu mà được rà soát, cập nhật, bổ sung trên cơ sở Chương trình 2018, song vẫn có nhiều nội dung cần điều chỉnh do những hạn chế trong triển khai và yêu cầu mới của giáo dục phổ thông. Nếu chương trình điều chỉnh đáng kể, việc hoàn thiện SGK theo phiên bản mới trong thời gian ngắn sẽ đòi hỏi Bộ GD&ĐT triển khai khẩn trương.

Để sách sử dụng từ năm học 2028 - 2029, cuối năm 2027 hoặc đầu năm 2028 cần có bản mẫu được phê duyệt để in. Theo ước tính của tôi, Bộ GD&ĐT có chưa đến một năm để hoàn thiện SGK qua các khâu biên soạn, thực nghiệm, tham vấn chuyên gia và giáo viên, thẩm định, phê duyệt. Mốc thời gian dành cho việc hoàn thiện SGK này chỉ khả thi nếu việc chỉnh sửa chương trình kịp hoàn thành trong 2 – 3 tháng tới. Thách thức lớn nhất không chỉ là đúng tiến độ mà còn là chất lượng khoa học, sư phạm và tính khả thi của SGK khi đưa vào trường học. Vì vậy, cần có kế hoạch chặt chẽ, huy động chuyên gia, tác giả giàu kinh nghiệm và không xem nhẹ thực nghiệm, thẩm định.

PV: Theo ông, cần tuân thủ nguyên tắc nào để SGK mới kế thừa thành quả, cập nhật yêu cầu mới mà không gây xáo trộn lớn trong dạy và học?

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Việc hoàn thiện SGK phụ thuộc vào kết quả điều chỉnh chương trình. Mức độ điều chỉnh ở từng môn học có thể khác nhau, vì thế mức độ kế thừa SGK hiện hành cũng khác nhau. Nguyên tắc là giữ lại những gì thực tiễn chứng minh phù hợp, hiệu quả và sửa những gì còn bất cập. Cần kế thừa định hướng phát triển phẩm chất, năng lực của Chương trình 2018.

Nếu điều chỉnh chủ yếu tập trung vào yêu cầu cần đạt và nội dung cụ thể, không làm thay đổi đáng kể cấu trúc chương trình thì việc bảo đảm tính kế thừa, ổn định sẽ thuận lợi hơn. Nội dung SGK phải chính xác, khoa học, phù hợp yêu cầu cần đạt; tinh giản nội dung chưa cần thiết, tăng thực hành, vận dụng; cập nhật hợp lí năng lực khoa học, công nghệ, chuyển đổi số, AI; đồng thời chú trọng đạo đức, nhân cách, lòng yêu nước và trách nhiệm xã hội của người học. SGK in không nên là nguồn học liệu duy nhất. Cùng sách in, cần phát triển SGK điện tử, học liệu số và công cụ hỗ trợ học tập bằng AI. Thống nhất SGK toàn quốc không có nghĩa thu hẹp học liệu; sách thống nhất nhưng môi trường học liệu cần phong phú, mở và có khả năng cập nhật.

 Để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, cần đổi mới đồng bộ từ chương trình, SGK đến việc kiểm tra, đánh giá.

Để nâng cao chất lượng giáo dục phổ thông, cần đổi mới đồng bộ từ chương trình, SGK đến việc kiểm tra, đánh giá.

PV: Nếu chỉ sửa chương trình và SGK mà kiểm tra, thi cử không đổi tương ứng, mục tiêu giảm tải có đạt được không? Theo ông, cần giải pháp đồng bộ nào để đổi mới đi vào thực chất?

PGS.TS Bùi Mạnh Hùng: Nếu chương trình và SGK thay đổi mà kiểm tra, đánh giá không thay đổi tương ứng thì khó đạt mục tiêu đổi mới thực chất, kể cả giảm tải. Thi cử tác động mạnh đến cách dạy và học. Nếu đề thi thiên về ghi nhớ, tái hiện kiến thức, giáo viên và học sinh dễ quay lại lối học thuộc để phục vụ thi cử. Vì vậy, đánh giá phải bám sát yêu cầu cần đạt, chú trọng khả năng hiểu, vận dụng, giải quyết vấn đề và sáng tạo.

Bên cạnh đổi mới đánh giá định kì và các kì thi, cần coi trọng đánh giá thường xuyên để giáo viên nhận biết tiến bộ, khó khăn của học sinh và điều chỉnh hoạt động dạy học. Đánh giá không chỉ xác nhận kết quả cuối cùng mà còn hỗ trợ quá trình học tập, phát triển năng lực. Công nghệ và AI hỗ trợ học tập, đánh giá nhưng cũng đặt ra nguy cơ về tính trung thực, công bằng, minh bạch và trách nhiệm của người học. Cần đổi mới cách giao nhiệm vụ, đánh giá để nhận diện năng lực thực sự, thay vì chỉ kiểm tra sản phẩm có thể được tạo bằng công cụ.

Đổi mới giáo dục là một quá trình đồng bộ: Chương trình xác định mục tiêu và yêu cầu cần đạt; SGK, học liệu tạo điều kiện thực hiện hoạt động dạy học; phương pháp dạy học định hướng cách thức tổ chức cho học sinh hoạt động để đạt yêu cầu của chương trình; kiểm tra, đánh giá xác định mức độ đạt được. Bốn khâu phải cùng hướng đến phát triển phẩm chất, năng lực. Những chuyển biến trong đánh giá thời gian qua đáng ghi nhận nhưng chưa đủ. Nếu cách đánh giá chưa thay đổi thực chất thì khó khẳng định cách dạy và học đã thay đổi căn bản.

Xin trân trọng cảm ơn PGS!

Huyền Thanh (thực hiện)

Nguồn CAND: https://cand.vn/sua-chuong-trinh-va-sach-giao-khoa-tinh-gian-nhung-khong-ha-chuan-post825213.html