Sửa đổi Luật Hải quan Chuyển từ tư duy 'quản lý' sang 'phục vụ'
Dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan được xây dựng theo hướng chuyển từ quản lý sang phục vụ, thúc đẩy tuân thủ tự nguyện và ứng dụng công nghệ số. Nhiều doanh nghiệp kỳ vọng các quy định mới sẽ tiếp tục cắt giảm thủ tục, tạo thuận lợi cho thương mại điện tử và hoạt động sản xuất, xuất khẩu.
Tiếp tục cải cách thủ tục, thúc đẩy tuân thủ tự nguyện
Tại Hội thảo lấy ý kiến doanh nghiệp về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Hải quan do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) vừa phối hợp Cục Hải quan tổ chức, Phó Cục trưởng Cục Hải quan Nguyễn Thành Hưng cho biết, báo cáo tổng kết thi hành Luật Hải quan năm 2014 cập nhật đến ngày 13/5 ghi nhận nhiều kết quả tích cực.
Luật đã tạo cơ sở pháp lý cho cải cách thủ tục hành chính, giảm thủ tục và khâu trung gian, tạo thuận lợi cho hoạt động xuất nhập khẩu. Luật cũng góp phần hiện đại hóa phương thức quản lý, nâng cao hiệu quả phòng, chống buôn lậu và gian lận thương mại. Đồng thời, cơ quan hải quan có thêm cơ sở để quản lý thuế hiệu quả, bảo đảm nguồn thu ngân sách và phù hợp với các cam kết quốc tế.
Theo Phó Tổng Thư ký kiêm Trưởng ban Pháp chế VCCI Đậu Anh Tuấn, cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao kết quả cải cách của ngành hải quan trong hơn một thập kỷ qua.

Cộng đồng doanh nghiệp đánh giá cao kết quả cải cách của ngành hải quan trong hơn một thập kỷ qua. Nguồn: Chi cục Hải quan Khu vực II
Từ mô hình quản lý chủ yếu dựa trên hồ sơ giấy, đến nay phần lớn thủ tục hải quan đã được điện tử hóa. Với các tờ khai luồng xanh, thời gian thông quan chỉ còn tính bằng giây. Tỷ lệ kiểm tra thực tế hàng hóa cũng giảm mạnh, từ gần 10% xuống khoảng 2,65% trong năm qua, dù số lượng tờ khai tăng nhiều lần. Những kết quả này cho thấy hiệu quả rõ rệt của quá trình hiện đại hóa hải quan, góp phần giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và tạo nền tảng cho mục tiêu xây dựng hải quan số, hải quan thông minh trong thời gian tới.
Tuy vậy, thực tiễn hiện nay đòi hỏi phải sửa đổi Luật Hải quan. Theo ông Nguyễn Thành Hưng, việc sửa Luật nhằm cụ thể hóa và thể chế hóa các chủ trương lớn của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết số 57-NQ/TW, Nghị quyết số 66-NQ/TW và Nghị quyết số 68-NQ/TW. Cùng với đó, khắc phục các bất cập của Luật Hải quan năm 2014; bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ với các pháp luật liên quan.
Theo đó, dự thảo Luật được xây dựng trên tinh thần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy phục vụ; thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện trên cơ sở phân loại mức độ tuân thủ pháp luật và mức độ rủi ro của người nộp thuế, người khai hải quan... Qua đó, tháo gỡ các rào cản hành chính, giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp và từng bước chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm dựa trên quản lý rủi ro.
Làm rõ trách nhiệm của nền tảng thương mại điện tử
Một trong những nội dung được quan tâm góp ý tại hội thảo là nghĩa vụ của nền tảng thương mại điện tử. Dự thảo Luật quy định, chủ quản nền tảng thương mại điện tử có trách nhiệm khai hải quan và làm thủ tục hải quan. Các doanh nghiệp cho rằng cần cân nhắc kỹ quy định này.
Theo các doanh nghiệp, nền tảng thương mại điện tử về bản chất chỉ đóng vai trò trung gian kết nối người mua và người bán, không phải chủ thể của giao dịch mua bán hàng hóa. Trong đa số trường hợp, đơn vị vận hành nền tảng không sở hữu, không trực tiếp quản lý hàng hóa và cũng không nắm đầy đủ hồ sơ, chứng từ để thực hiện nghĩa vụ khai báo hải quan. Vì vậy, việc quy định chủ quản nền tảng là người khai hải quan độc lập chưa phù hợp với vai trò pháp lý của nền tảng theo quy định của Luật Thương mại điện tử năm 2025.
Hơn nữa, việc giao cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử tư cách người khai hải quan có thể dẫn đến tình trạng phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những thông tin nằm ngoài khả năng kiểm soát và xác minh của mình. Bởi lẽ, theo quy định hiện hành, người khai hải quan phải chịu trách nhiệm về tính chính xác và đầy đủ của các thông tin khai báo. Tuy nhiên, các nền tảng thương mại điện tử không trực tiếp sản xuất, kinh doanh, xuất nhập khẩu hay quản lý hàng hóa. Do đó, họ không có điều kiện để kiểm chứng độc lập các thông tin quan trọng như mã HS, xuất xứ, trị giá hải quan, thành phần hàng hóa hoặc các điều kiện quản lý chuyên ngành.
Đối với thương mại điện tử xuyên biên giới, khó khăn này càng lớn khi số lượng người bán và chủng loại hàng hóa rất đa dạng, liên tục thay đổi. Trong nhiều trường hợp, nền tảng chỉ có thể sử dụng thông tin do người bán cung cấp và không có đủ công cụ hoặc thẩm quyền để xác minh độ chính xác của các dữ liệu đó. Vì vậy, việc giao cho chủ quản nền tảng thương mại điện tử tư cách người khai hải quan có thể dẫn đến tình trạng phải chịu trách nhiệm pháp lý đối với những thông tin nằm ngoài khả năng kiểm soát và xác minh của mình.
Bên cạnh đó, nhiều doanh nghiệp đề nghị tiếp tục hoàn thiện và mở rộng chế độ doanh nghiệp ưu tiên trong lĩnh vực hải quan. Theo các ý kiến này, đây là một trong những chính sách hiệu quả nhất của Luật Hải quan hiện hành, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam và hỗ trợ các tập đoàn đa quốc gia duy trì chuỗi cung ứng tại Việt Nam.
Do đó, doanh nghiệp kiến nghị Ban soạn thảo nghiên cứu mở rộng các cơ chế ưu tiên. Cụ thể, cho phép doanh nghiệp ưu tiên được nhận hàng từ kho ngoại quan để phục vụ sản xuất trước khi hoàn tất hồ sơ hải quan và thực hiện khai bổ sung trong thời hạn 30 ngày kể từ khi hoàn thành việc nhận hàng.











