'Được mùa, mất giá' và bài toán liên kết trong sản xuất lúa gạo (Kỳ 2)

Trong bối cảnh bức tranh sản xuất lúa trầm lắng vì 'được mùa, mất giá', những mô hình liên kết sản xuất chuỗi giá trị xuất hiện như những điểm sáng, bảo vệ người nông dân trước sóng gió thị trường.

Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp, vụ lúa này anh Đinh Văn Tâm (thôn 15, xã Xuân Trường) không phải lo về khâu tiêu thụ thóc.

Ký kết hợp đồng với doanh nghiệp, vụ lúa này anh Đinh Văn Tâm (thôn 15, xã Xuân Trường) không phải lo về khâu tiêu thụ thóc.

Kỳ 2: Liên kết chuỗi giá trị: Làm thế nào để hài hòa lợi ích nông dân - doanh nghiệp ?

Điểm sáng từ những đại điền và “Cánh đồng liên kết”

Thực tế sản xuất cho thấy, khi người nông dân chủ động bắt tay với doanh nghiệp, giá trị hạt gạo và thu nhập của người trồng lúa được cải thiện rõ rệt. Vụ Xuân này, anh Đinh Văn Tâm (thôn 15, xã Xuân Trường) cấy tới 32 mẫu lúa, trong đó có 16 mẫu liên kết bao tiêu sản phẩm với Công ty TNHH Toản Xuân. Anh Tâm chia sẻ:

"Cấy lúa với diện tích lớn nên không thể phó mặc cho thị trường tự do, nhiều năm nay tôi luôn chú trọng giữ mối liên kết với doanh nghiệp. Năm nay, trong khi nhiều nơi nông dân gặt xong không bán được thóc hoặc bán với giá rất thấp, thì lúa ST25 của tôi liên kết với Công ty gặt đến đâu được thu mua hết đến đấy với giá 6.650 đồng/kg, cao hơn hẳn thị trường. Hơn nữa, làm với Công ty được hướng dẫn quy trình sản xuất, phòng trừ sâu bệnh và cung ứng vật tư nên giá đầu vào thấp hơn, lúa đạt năng suất, chất lượng tốt".

Tại Câu lạc bộ (CLB) Đại điền Ninh Bình, nơi quy tụ khoảng 50 thành viên với tổng diện tích tích tụ, thuê mướn lên đến hơn 2.000 ha, câu chuyện liên kết được xem là nguyên tắc sống còn. Anh Phạm Văn Hướng (phường Đông Hoa Lư), Chủ tịch CLB đã phân tích hiệu quả từ mô hình liên kết sản xuất 150 ha của gia đình với Công ty TNHH Cường Tân.

Theo anh Phạm Văn Hướng, doanh nghiệp thực hiện bao tiêu toàn bộ thóc tươi ngay tại ruộng với mức giá ổn định là 8.300 đồng/kg. Toàn bộ vật tư, hạt giống được Công ty cung ứng đầy đủ ngay từ đầu vụ nên chi phí thấp hơn nhiều so với mua ngoài. Đặc biệt, nhờ áp dụng cơ giới hóa đồng bộ bằng hệ thống máy móc gia đình tự đầu tư, chi phí sản xuất chỉ khoảng 900.000 đồng/sào. Sau khi trừ chi phí, tôi vẫn cầm chắc khoản lãi từ 400.000 đến 500.000 đồng/sào.

Áp dụng cơ giới hóa đồng bộ và bán thóc tươi ngay tại ruộng giúp các thành viên CLB Đại điền tối ưu hóa chi phí, cầm chắc lợi nhuận.

Áp dụng cơ giới hóa đồng bộ và bán thóc tươi ngay tại ruộng giúp các thành viên CLB Đại điền tối ưu hóa chi phí, cầm chắc lợi nhuận.

Sự bền chặt trong chuỗi liên kết còn được khẳng định qua triết lý chia sẻ rủi ro khi gặp thiên tai. Ông Lâm Văn Chiểu, Phó Chủ tịch HĐQT, Phó Giám đốc Công ty TNHH Cường Tân nhớ lại sự cố lịch sử vào vụ Mùa năm 2017, khi nạn rầy lưng trắng và bệnh lùn sọc đen gây thiệt hại nghiêm trọng đến năng suất:

"Cái quan trọng nhất là giải quyết rủi ro trong quá trình liên kết sản xuất như thế nào ? Vụ Mùa năm đó lúa bị mất mùa tương đối nặng. Công ty đã chủ động đứng ra vay vốn ngân hàng để hỗ trợ bù lỗ trực tiếp cho nông dân; trong đó lúa lai 3 dòng được bù khoảng 1 triệu đồng/sào, lúa lai 2 dòng là 700.000 đồng/sào. Đồng thời, tất cả các chi phí về giống, phân bón, Công ty đã ứng trước từ đầu vụ đều không thu lại. Chính sự chia sẻ, đồng hành lúc hoạn nạn đã giúp bà con nông dân yên tâm, tiếp tục đồng hành gắn bó lâu dài và giữ vững sự ổn định cho vùng nguyên liệu".

Những nút thắt trong duy trì mạch liên kết

Mặc dù hiệu quả từ các chuỗi liên kết mang tính hình mẫu của các công ty Cường Tân hay Toản Xuân là rất rõ ràng, song thực tế triển khai trên diện rộng tại địa phương vẫn gặp không ít khó khăn, thách thức. Tỉnh Ninh Bình sở hữu diện tích gieo cấy lúa cao nhất trong khu vực đồng bằng sông Hồng với tổng diện tích cả 2 vụ đạt tới trên 247.000 ha. Thế nhưng, tỷ lệ diện tích lúa thực tế tham gia vào các chuỗi liên kết bao tiêu sản phẩm vững chắc lại vô cùng nhỏ bé, mới chỉ chiếm vỏn vẹn khoảng 1,13% (tương đương khoảng 50 mô hình với quy mô 1.500 ha/ 1 vụ).

Nút thắt lớn nhất khiến chuỗi liên kết dễ bị tổn thương, đứt gãy chính là tâm lý chạy theo lợi nhuận ngắn hạn và tính cam kết chưa cao của một bộ phận người dân khi thị trường có biến động giá. Khi giá thóc lúa thị trường ổn định thì chuỗi vận hành tốt, nhưng khi có biến động, các thương lái tự do sẵn sàng bỏ giá cao hơn để gom hàng. Thấy lợi nhuận trước mắt, một số hộ dân sẵn sàng phá bỏ hợp đồng liên kết để bán ra ngoài.

Thiếu liên kết trong sản xuất đặt ra bài toán khó với HTX Nghĩa Thái (xã Nghĩa Hưng) trong việc tiêu thụ thóc ở vụ lúa Xuân 2026 này.

Thiếu liên kết trong sản xuất đặt ra bài toán khó với HTX Nghĩa Thái (xã Nghĩa Hưng) trong việc tiêu thụ thóc ở vụ lúa Xuân 2026 này.

Ông Đinh Văn Trịnh, Giám đốc HTX nông nghiệp Nghĩa Thái (xã Nghĩa Hưng) dẫn chứng câu chuyện thực tế của đơn vị vào vụ Xuân năm 2021: Thời điểm đó, HTX đứng ra làm trung gian ký hợp đồng liên kết chuỗi sản xuất và bao tiêu sản phẩm với Công ty TNHH Toản Xuân, triển khai quy mô 50 ha lúa Bắc Thơm với 150 hộ dân tham gia. Tuy nhiên, đến khi thu hoạch, giá thóc ngoài thị trường bất ngờ tăng cao hơn so với hợp đồng đã ký. Nhiều hộ dân dao động, tự ý mang thóc bán cho thương lái tự do bên ngoài. Chuỗi liên kết bị bể, HTX phải đứng ra dùng nguồn lực tài chính đền bù thiệt hại cho doanh nghiệp, từ đó chúng tôi không dám đứng ra ký kết các hợp đồng bao tiêu tương tự trong một thời gian dài. Đối với nông dân, chỉ chênh nhau một vài giá là họ tính toán phá hợp đồng ngay nên rất khó duy trì việc liên kết.

Thực trạng này không chỉ gây thiệt hại cho các HTX mà còn đẩy doanh nghiệp vào thế khó. Việc người dân tự ý hủy cam kết khiến doanh nghiệp không thu mua đủ sản lượng thóc như dự kiến, dẫn đến thiếu hụt nguyên liệu để thực hiện đơn hàng cho các đối tác, thậm chí bị phạt hợp đồng hoặc phải chuyển đơn hàng đi nơi khác do không giao đúng tiến độ.

Bên cạnh đó, việc tích tụ đất đai để hình thành các vùng sản xuất tập trung, liền khoảnh cũng gặp nhiều rào cản. Để có một vùng sản xuất đủ lớn đưa cơ giới hóa vào, doanh nghiệp phải vận động, dồn đổi ruộng của các hộ không có nhu cầu cho thuê ra khu vực khác. Đồng thời, do chi phí đầu tư hạ tầng kênh mương, đường nội đồng rất lớn nên doanh nghiệp luôn đối mặt với rủi ro tâm lý người dân phá cam kết, đòi lại ruộng giữa chừng.

Giải pháp căn cơ hướng tới chuỗi giá trị bền vững

Để giải bài toán "được mùa, mất giá" và mở rộng diện tích liên kết sản xuất một cách bền vững, bảo đảm biên độ lợi nhuận cho người trồng lúa, ông Nguyễn Sinh Tiến, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Ninh Bình định hướng tập trung vào các nhóm giải pháp đồng bộ sau:

Tối ưu hóa chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng nông sản: Khuyến khích người dân giảm chi phí đầu vào thông qua việc sử dụng phân bón hợp lý, tăng cường sử dụng phân bón hữu cơ và các loại thuốc bảo vệ thực vật sinh học. Áp dụng các giải pháp kỹ thuật tiên tiến, canh tác lúa phát thải thấp nhằm tăng năng suất, giảm giá thành sản xuất trên mỗi đơn vị diện tích. Chuyển đổi cơ cấu sang các bộ giống lúa chất lượng cao, đáp ứng tiêu chuẩn VietGAP, ISO và hướng tới chuẩn hữu cơ để nâng cao giá trị hạt gạo và thâm nhập các thị trường xuất khẩu giá trị cao như: Mỹ, Úc, Nhật Bản, châu Âu.

Thỏa thuận cơ chế giá linh hoạt và chia sẻ lợi ích hài hòa: Để hạn chế tình trạng đứt gãy liên kết khi thị trường biến động, cần thay đổi phương thức chốt giá trong hợp đồng bao tiêu. Các bên cần xây dựng phương án rõ ràng, thống nhất giữa ý chí và hành động. Giải pháp hiệu quả là áp dụng mô hình bảo lãnh trách nhiệm, chia sẻ rủi ro như Công ty TNHH Cường Tân đang triển khai, hoặc thực hiện cơ chế thu mua theo giá thị trường tại thời điểm thu hoạch nhân với hệ số hỗ trợ (hệ số 1,1) như Công ty TNHH Toản Xuân. Điều này vừa bảo đảm tính công bằng, duy trì lợi nhuận ổn định cho nông dân, vừa bảo đảm chữ tín cho doanh nghiệp đầu tư.

Vùng sản xuất lúa tập trung tại phường Yên Thắng được quy hoạch bài bản, đây là kết quả từ quá trình tích tụ ruộng đất gắn với chuỗi liên kết bền vững.

Vùng sản xuất lúa tập trung tại phường Yên Thắng được quy hoạch bài bản, đây là kết quả từ quá trình tích tụ ruộng đất gắn với chuỗi liên kết bền vững.

Đẩy mạnh tích tụ đất đai gắn với quy hoạch tập trung: Tập trung mở rộng các mô hình tích tụ, thuê mướn ruộng đất dài hạn (thời hạn 5 năm trở lên) có sự xác nhận của chính quyền địa phương để tạo lòng tin cho các bên. Tổ chức quy hoạch các khu sản xuất nông nghiệp tập trung, ứng dụng công nghệ cao và cơ giới hóa đồng bộ. Từ các vùng nguyên liệu lớn này, đẩy mạnh phát triển các sản phẩm OCOP ngành hàng lúa gạo để nâng cao năng lực cạnh tranh.

Bên cạnh đó, nhà nước cần tăng cường vai trò cầu nối, hỗ trợ kết nối tiêu thụ và mở rộng thị trường xuất khẩu. Đồng thời, cần có các chính sách cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp và HTX tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi để đầu tư hạ tầng sấy, chế biến, bảo quản và tái đầu tư cho cánh đồng đại điền.

Khi những nút thắt về lợi ích được tháo gỡ bằng niềm tin và sự chuyên nghiệp, mạch liên kết giữa doanh nghiệp và nhà nông sẽ không còn chỗ cho những bấp bênh thị trường. Đó cũng là lúc những mùa vàng sẽ vẹn nguyên niềm vui, mang lại sự ấm no, bền vững cho mỗi người nông dân.

Nguyễn Lựu

Nguồn Ninh Bình: https://baoninhbinh.org.vn/duoc-mua-mat-gia-va-bai-toan-lien-ket-trong-san-xuat-lua-gao-ky-2-lien-ket-chuo-260612130502028.html