Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Đã đến lúc phải gọi tên trách nhiệm

(NB &CL) Những dòng sông ô nhiễm kéo dài nhiều năm chưa được xử lý dứt điểm, những đô thị thường xuyên chìm trong bụi mịn, những khu dân cư sống cạnh nguồn thải vẫn mòn mỏi chờ đợi một môi trường an toàn. Đằng sau thực trạng ấy không chỉ là hạn chế về hạ tầng, công nghệ hay nguồn lực, mà còn là câu chuyện trách nhiệm trong quản lý và thực thi chính sách. Sửa Luật Bảo vệ môi trường lần này vì thế cần giải quyết một vấn đề căn cốt: Không thể để ô nhiễm kéo dài mà không rõ ai chịu trách nhiệm và bao giờ phải khắc phục.

Có thể thấy, một dòng sông bị ô nhiễm không thể tự làm sạch bằng những cuộc họp liên ngành. Một khu dân cư chịu ảnh hưởng bởi khói bụi không thể được bảo vệ chỉ bằng những văn bản yêu cầu kiểm tra, chấn chỉnh. Và người dân cũng không thể mãi chấp nhận câu trả lời rằng ô nhiễm là vấn đề chung, thuộc trách nhiệm của nhiều cấp, nhiều ngành.

Thực tế tại lưu vực sông Nhuệ, sông Đáy và hệ thống sông Bắc Hưng Hải là một ví dụ. Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn từng chỉ rõ việc ô nhiễm kéo dài nhiều năm, nguyên nhân chính là vì trách nhiệm chung chung, dẫn đến tình trạng “cha chung không ai khóc”. Một nhận xét ngắn nhưng chạm đúng căn bệnh trong quản lý môi trường - Khi trách nhiệm bị chia nhỏ, không có đầu mối đủ mạnh để điều phối và chịu trách nhiệm đến cùng, người dân vẫn là đối tượng phải gánh chịu hậu quả.

Đó cũng là lý do sửa Luật Bảo vệ môi trường không thể chỉ dừng ở việc điều chỉnh thủ tục hành chính, đơn giản hóa giấy phép hay phân cấp thẩm quyền. Điều quan trọng hơn là phải thiết lập được cơ chế quản lý trong đó trách nhiệm được xác định rõ, quyền hạn đi đôi với nghĩa vụ và kết quả thực thi có thể kiểm chứng.

Cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm

Thảo luận về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường ngày 24/10, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt trong lần sửa đổi Luật này là “cắt thủ tục nhưng không cắt trách nhiệm; nới tiền kiểm nhưng phải siết hậu kiểm; phân cấp nhưng không phân tán trách nhiệm; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng đơn thuần”.

Đây không chỉ là yêu cầu đối với một dự án luật, mà còn là nguyên tắc cần quán triệt trong điều hành và quản trị quốc gia.

Giảm thủ tục, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp là cần thiết để khơi thông nguồn lực phát triển. Nhưng nếu việc nới lỏng tiền kiểm không đi kèm năng lực hậu kiểm, nếu cơ quan được giao thẩm quyền không đủ nhân lực, thiết bị và kinh phí để giám sát thì cải cách có thể tạo ra những khoảng trống nguy hiểm.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu trong phiên họp tại tổ, ngày 24/10/2026, về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Ảnh: Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn phát biểu trong phiên họp tại tổ, ngày 24/10/2026, về dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Ảnh: Quốc hội.

Chủ tịch Quốc hội đã lưu ý, việc miễn đánh giá tác động môi trường đối với các dự án thứ cấp trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp chỉ nên áp dụng khi hạ tầng xử lý môi trường được đầu tư đồng bộ; những dự án có lượng khí thải lớn, chất thải nguy hại hoặc liên quan đến nhập khẩu phế liệu cần được loại trừ.

Điều đó cho thấy cải cách phải dựa trên đánh giá thực chất về rủi ro, chứ không thể chỉ nhìn vào số lượng thủ tục được cắt giảm. Một dự án được tạo thuận lợi về đầu tư nhưng để lại hậu quả môi trường thì lợi ích trước mắt không thể bù đắp những tổn thất lâu dài mà cộng đồng phải gánh chịu.

Vấn đề đặt ra là phân cấp phải đi cùng phân bổ nguồn lực và cơ chế kiểm soát quyền lực; hậu kiểm phải có tiêu chuẩn, dữ liệu và quy trình kiểm chứng độc lập. Không thể giao thêm trách nhiệm cho địa phương, nhất là cấp cơ sở, trong khi cán bộ môi trường phần lớn kiêm nhiệm, thiếu điều kiện thực hiện. Cũng không thể chỉ dựa vào báo cáo của doanh nghiệp để kết luận một nguồn thải đã được kiểm soát.

Khi ô nhiễm trở thành vấn đề về an ninh và quản trị

Tại phiên họp thứ nhất của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật (ngày 22/6/2026), Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh quan điểm không để người dân sống trong tình trạng ô nhiễm kéo dài mà không xác định rõ trách nhiệm, thời hạn khắc phục và tiêu chí đánh giá kết quả.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật hôm 22/6. Ảnh: TTXVN.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật hôm 22/6. Ảnh: TTXVN.

Thông điệp này đặt ra một yêu cầu rất cụ thể rằng, chính sách phải được thực thi đến cùng, không dừng ở khâu phát hiện, kiểm tra hay xử phạt, mà phải xác định rõ việc khắc phục hậu quả và kết quả cuối cùng.

Đáng chú ý, Chỉ thị số 15-CT/TW ngày 15/10/2026 của Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh môi trường trong thời kỳ phát triển mới đã đặt vấn đề môi trường trong mối quan hệ trực tiếp với an ninh quốc gia, an ninh con người và trật tự, an toàn xã hội. Đây là bước phát triển quan trọng trong tư duy quản lý, ô nhiễm không còn chỉ được nhìn nhận như một vấn đề kỹ thuật hay hệ quả của hoạt động sản xuất, mà còn là nguy cơ đối với ổn định xã hội và lợi ích quốc gia.

Một sự cố môi trường nghiêm trọng có thể ảnh hưởng đến sức khỏe, sinh kế của hàng nghìn người. Một điểm ô nhiễm kéo dài không được giải quyết có thể tích tụ bức xúc, dẫn đến tranh chấp, khiếu kiện. Bộ Chính trị vì thế yêu cầu chủ động phòng ngừa, không để sự cố lan rộng, kéo dài, trở thành khủng hoảng; đồng thời kiên quyết xử lý hành vi bao che, tiếp tay cho vi phạm, tham nhũng, tiêu cực và lợi ích nhóm trong lĩnh vực môi trường.

Nhìn từ góc độ ấy, trách nhiệm bảo vệ môi trường cũng chính là trách nhiệm giữ gìn niềm tin của người dân vào hiệu lực quản lý nhà nước. Khi người dân phản ánh ô nhiễm mà không biết cơ quan nào tiếp nhận, khi vi phạm được phát hiện nhưng việc khắc phục không có thời hạn rõ ràng, thì khoảng cách giữa chính sách và cuộc sống vẫn còn rất lớn.

Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Đã đến lúc phải gọi tên trách nhiệm. Ảnh: AI.

Sửa Luật Bảo vệ môi trường: Đã đến lúc phải gọi tên trách nhiệm. Ảnh: AI.

Tăng trưởng không thể được đánh đổi bằng sự suy kiệt tài nguyên

Nghị quyết số 247/2025/QH15 của Quốc hội về tiếp tục nâng cao hiệu lực, hiệu quả việc thực hiện chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường đã chỉ ra những con số đáng suy ngẫm: Chỉ khoảng 18% tổng lượng nước thải đô thị được thu gom, xử lý; tỷ lệ chôn lấp trực tiếp chất thải rắn sinh hoạt vẫn chiếm 58,85%; còn 38/435 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng chưa hoàn thành xử lý triệt để, trong đó chủ yếu là các bãi chôn lấp rác thải.

Những con số này cho thấy bảo vệ môi trường vẫn là một trong những khâu yếu trong quá trình tổ chức thực hiện chính sách. Trong khi đó, đất nước đang bước vào giai đoạn phát triển mới, triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, thực hiện các mục tiêu chiến lược, hướng tới khát vọng phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045.

Muốn tăng trưởng nhanh, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiện thực hóa những mục tiêu lớn, Việt Nam phải huy động mạnh mẽ các nguồn lực, thúc đẩy đầu tư, phát triển hạ tầng, công nghiệp và công nghệ. Nhưng tăng trưởng không thể được đánh đổi bằng sự suy kiệt tài nguyên, ô nhiễm nguồn nước và chất lượng không khí ngày càng suy giảm.

Quốc hội đã đặt mục tiêu đến năm 2030 giảm khoảng 20% nồng độ bụi PM2.5 trung bình năm tại Hà Nội so với mức năm 2024; đồng thời yêu cầu kiểm soát khí thải phương tiện giao thông, cải thiện chất lượng các lưu vực sông và nâng tỷ lệ thu gom, xử lý nước thải đô thị. Để những mục tiêu này trở thành hiện thực, cần xác định rõ trách nhiệm của từng cấp chính quyền, từng ngành và người đứng đầu, thay vì chỉ giao nhiệm vụ chung chung.

Doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về nguồn thải do mình tạo ra; cơ quan quản lý phải có đủ năng lực giám sát, phát hiện và xử lý vi phạm; người dân phải được tiếp cận thông tin, có quyền giám sát và được trả lời khi phản ánh những vấn đề ảnh hưởng đến môi trường sống. Đặc biệt, với những nguồn ô nhiễm liên vùng, phải có cơ chế điều phối đủ mạnh, xác định rõ đầu mối chủ trì và trách nhiệm của từng địa phương.

Sau tất cả, người dân không đánh giá hiệu quả sửa luật bằng bao nhiêu thủ tục được cắt giảm, mà bằng việc dòng sông trước nhà có bớt ô nhiễm, bầu không khí có trong lành hơn và những kiến nghị chính đáng có được giải quyết hay không.

Luật có thể được sửa đổi với những quy định tiến bộ, nhưng điều quyết định vẫn là trách nhiệm của những người thực thi. Đã đến lúc ô nhiễm kéo dài phải có người chịu trách nhiệm, có thời hạn khắc phục và có kết quả cụ thể. Bởi lẽ, bảo vệ môi trường không chỉ là bảo vệ tài nguyên, sức khỏe và chất lượng sống hôm nay, mà còn là bảo vệ nền tảng phát triển của đất nước trong nhiều thế hệ mai sau.

Hoài Đức

Nguồn Công Luận: https://congluan.vn/sua-luat-bao-ve-moi-truong-da-den-luc-phai-goi-ten-trach-nhiem-post366324.html