Sức sống Bạch Long Vĩ
Khởi đầu từ 62 thanh niên xung phong năm 1993, Bạch Long Vĩ đã trải qua hành trình hơn ba thập kỷ kiến tạo trong điều kiện khắc nghiệt bậc nhất. Hôm nay, nơi đây không chỉ là điểm tựa hậu cần nghề cá, mà còn là minh chứng sống động cho ý chí bám biển, giữ đảo của con người Việt Nam.
Tuổi hai mươi, họ đã đến và ở lại
Những ngày đầu tháng Tư, sau nhiều lần lỡ hẹn bởi những đợt gió mùa ngoài khơi, con tàu Hoa Phượng Đỏ rời đất liền, chở chúng tôi vượt hơn bảy giờ lênh đênh qua những dải sóng dữ. Khi một vệt xanh nhỏ dần hiện ra giữa mênh mông biển cả, cảm xúc trong mỗi người bỗng lắng lại. Đó không chỉ là một hòn đảo đang vươn mình, thân thương như trong đất liền, mà là một phần máu thịt của Tổ quốc - Bạch Long Vĩ, nơi xa đất liền nhất của Vịnh Bắc Bộ.
Hơn ba mươi năm trước, “đảo Thanh niên” Bạch Long Vĩ theo tiếng gọi của Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, 62 cán bộ, đội viên thanh niên xung phong, gồm 32 nam và 30 nữ, chủ yếu đến từ Hải Phòng, đã tình nguyện ra đảo, bắt đầu hành trình dựng xây một vùng đất gần như hoang sơ giữa Vịnh Bắc Bộ.
Trong ký ức của ông Trần Văn Hiên, Liên đội trưởng, Tổng đội Thanh niên xung phong, người ra đảo từ năm 1992 khi mới ngoài 20 tuổi, những ngày đầu ấy vẫn còn nguyên vẹn. Con tàu chợ chở đầy hàng hóa, gia súc, mắm muối... nồng nặc mùi biển. Hơn ba mươi tiếng đồng hồ giữa sóng gió, khi đặt chân lên đảo, trước mắt họ lại là một thử thách khác: một vùng đất trống trơn, không điện, không nước, không cây xanh. Mọi thứ đều bắt đầu từ con số gần như bằng không.
Tháng 3/1993, khi huyện đảo chính thức được thành lập, ông Hiên cùng hơn 60 thanh niên xung phong bắt đầu hành trình “dựng đảo”. Chỗ ở chỉ là những căn nhà tạm chật chội, bữa ăn đạm bạc với gạo hẩm, cá hộp, thịt hộp. Rau xanh là thứ xa xỉ. Ba tháng mới có một chuyến tàu tiếp tế từ đất liền, mang theo những nhu yếu phẩm ít ỏi.
Cùng với việc dựng nhà, họ cải tạo đất, mở đường, chuẩn bị đón những hộ dân đầu tiên ra sinh sống. Năm ngôi nhà đầu tiên được hoàn thành, đón 5 hộ dân với khoảng 20 nhân khẩu, những cư dân đầu tiên của một cộng đồng mới.
Thời gian trôi qua, đảo dần mang dáng dấp như trong đất liền. Từ chỗ không điện, đã có máy phát điện chạy dầu, rồi điện gió. Nước ngọt được cải thiện nhờ giếng khoan và các công trình trữ nước. Những con đường, trường học, trạm y tế, âu tàu, hải đăng... lần lượt hình thành. Những hàng cây xanh phủ kín đất cát, tạo nên một hệ sinh thái bền vững. Hơn 30 năm, hàng trăm hecta rừng đã được gây dựng, giữ lại nguồn nước quý giá và cải thiện môi trường sống.
Trong những công trình ấy, có dấu ấn của nhiều thế hệ thanh niên xung phong. Với ông Hiên, đáng nhớ nhất là cột cờ Thanh niên xung phong năm 1998, một biểu tượng của chủ quyền và lòng tự hào. Dưới lá cờ ấy, mỗi người khi đặt chân đến đảo đều cảm nhận rõ hơn ý nghĩa thiêng liêng của hai chữ “Tổ quốc”.
Cùng đó, câu chuyện của ông Nguyễn Văn Hậu, nay là Phó Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đặc khu Bạch Long Vĩ cũng là một lát cắt tiêu biểu cho hành trình ấy.


Toàn cảnh đặc khu Bạch Long Vĩ nhìn từ Trạm Đèn biển trên cao.
Bạch Long Vĩ là hòn đảo “thừa nắng, thừa gió nhưng thiếu nước”. Lượng mưa ít, bốc hơi lớn, không có nguồn nước ngọt tự nhiên. Những giếng cũ của ngư dân để lại chỉ đủ dùng cầm chừng. Có khi nước cạn, phải trèo xuống đáy giếng múc từng gàu, nhưng khi dội lên người vẫn lẫn cát sỏi. Để tiết kiệm nước, đàn ông cạo trọc đầu, tắm biển, nhường nước ngọt cho phụ nữ. Nước vo gạo, rửa rau, tắm giặt đều được tận dụng lại để tưới cây.
“Sau 6 tháng, chúng tôi mới thấy cơn mưa đầu tiên”, ông Hậu kể. “Có người đứng giữa trời mưa mà khóc, có người vội vàng mang xô chậu ra hứng từng giọt nước”.
Thế rồi, giữa những năm tháng gian khó ấy, những câu chuyện tình cũng nảy nở. Trong số 62 thanh niên xung phong đầu tiên, đã có hàng chục cặp nên duyên vợ chồng. Riêng ông Nguyễn Văn Hậu và bà Nguyễn Thị Huyền là một trong những cặp đôi đầu tiên tổ chức đám cưới trên đảo.
Còn ông Hiên gặp vợ mình, bà Vũ Thị Hải Yến, trong một lần bà ra thăm người thân. Cuộc gặp gỡ giản dị giữa biển khơi đã giúp họ nên duyên chồng vợ. Năm sau, bà quyết định ra đảo làm thanh niên xung phong, vừa để làm việc, vừa để ở gần người mình thương. Đám cưới của họ diễn ra không họ hàng, không mâm cao cỗ đầy, chỉ có đồng đội làm đại diện hai bên. Giữa tiếng sóng biển, họ nên vợ, nên chồng, cả đảo cùng chung vui. Mỗi mái ấm được dựng lên là thêm một gốc rễ của sự sống bám vào đảo.
Đến nay, Liên đội Thanh niên xung phong đã có hơn 40 cặp vợ chồng nên duyên, chiếm hơn 30% số hộ dân trên đảo. Những đứa trẻ đầu tiên sinh ra, lớn lên tại đây đã trưởng thành, nhiều em đỗ đại học, trở thành những công dân mang theo niềm tự hào về quê hương đặc biệt của mình.
Ra đảo năm 1993 khi mới 23 tuổi, lập gia đình ngay trong năm. Nhưng khác với nhiều người, ông Hậu mang trong mình một khát vọng học tập mãnh liệt. Nhiều năm trước, mỗi tháng một lần, ông vào đất liền theo học ngành Luật Kinh tế tại Viện Đại học Mở Hà Nội (cơ sở Hải Phòng). Để đến lớp, có khi ông phải rời đảo trước cả tuần, đi nhờ thuyền cá, đối mặt với những chuyến đi đầy rủi ro. Có lần thuyền dạt vào tận Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Nghệ An... rồi ông tiếp tục hành trình bằng đường bộ hàng trăm cây số quay trở lại lớp học ở thành phố Cảng. Có chuyến thuyền chết máy giữa biển, nước tràn vào khoang, sự sống mong manh như sợi chỉ. Nhưng rồi ông vẫn vượt qua, tiếp tục đến lớp vào ngày hôm sau.
Suốt hơn 4 năm rưỡi, quãng đường đi học của ông lên tới gần 17.000km, một con số không chỉ đo bằng khoảng cách, mà bằng ý chí. Với ông, tri thức là con đường để xây dựng cuộc sống tốt hơn cho chính mình và cho đảo. “Chỉ cần nghĩ đến ngày cầm tấm bằng đại học trên tay, mọi vất vả đều đáng”, ông nói, ánh mắt vẫn sáng lên niềm tin như thuở ban đầu.
Và những câu chuyện đời thường giữa đại dương
“Bố đã đánh chài về cho em anh chồng”, câu nói nửa đùa, nửa thật của chị Trần Thị Hương, trong một đêm trăng thượng tuần trên đảo khiến câu chuyện của chúng tôi bỗng trở nên ấm áp lạ thường. Giữa không gian mênh mang của biển, nơi gió thổi nhẹ qua những hàng cây và ánh trăng rải bạc trên mặt nước, câu nói ấy không chỉ là một kỷ niệm vui, mà còn là cách người ta kể về duyên phận, giản dị, mộc mạc như chính cuộc sống nơi đây.

Trạm Quản lý Đèn biển Bạch Long Vĩ cao 21m được chia làm 9 tầng bảo đảm an toàn hàng hải cho tàu thuyền trong điều kiện thời tiết khắc nghiệt.
Tối hôm ấy, chúng tôi ngồi cùng vợ chồng anh Bùi Hữu Bí và chị Trần Thị Hương trước hiên nhà. Anh Bí là thầy giáo, hơn mười năm trước tình nguyện ra đảo như một chuyến đi thử sức. Khi ấy, có lẽ chính anh cũng không nghĩ rằng quyết định ấy lại trở thành một bước ngoặt của cuộc đời. Chỉ vài tháng sau khi ra đảo, anh gặp Hương, cô gái con ngư dân đầu tiên lớn lên từ những ngày đầu khai phá đảo, sau khi học đại học xong lại chọn quay về. Chị làm công tác tài chính theo hệ thống trung ương tại đặc khu. Hơn mười năm trôi qua, giờ đây họ đã có ba mặt con. Bé gái của họ năm nay hết tiểu học lại chuẩn bị được gửi vào đất liền đi học, xa bố mẹ như chị Hương hơn 20 năm trước.
Chị Hương kể, gia đình chị là một trong những ngư dân đầu tiên tình nguyện ra đảo từ năm 1994. Bố mẹ chị - ông Tráng, bà Chanh, quê Thanh Hóa mang theo cả gia đình nhỏ rời đất liền ra giữa trùng khơi.
Chị nhớ, ngày bé, những đứa trẻ nhanh nhẹn thường được bố mẹ buộc dây, thòng xuống đáy giếng để gạn từng gáo nước. Nước quý đến mức từng giọt đều được nâng niu. Còn biển thì lại hào phóng theo một cách khác. Tôm, cá đầy khoang, nhiều đến mức không kịp tiêu thụ. Những mẻ mực, mẻ cá phơi trắng bãi, có khi hỏng đi vì tàu từ đất liền vài tháng mới ra một chuyến.
Tuổi thơ ấy, khắc nghiệt mà cũng rất đỗi ấm áp. Người ta vẫn gọi chị là một “kình ngư” bởi tài bơi lội, như một minh chứng cho những năm tháng lớn lên cùng biển. Ở đảo, mỗi người dường như đều có một “tài lẻ” rất riêng. Người hát hay, người chơi thể thao giỏi, người trồng rau khéo, người làm kinh tế giỏi. Cuộc sống nơi đây không cho phép ai đứng yên. Mỗi người phải tự tìm cách thích nghi, tự làm phong phú đời sống của mình và chính điều đó tạo nên một cộng đồng vừa nhỏ bé, vừa đặc biệt.

Vợ chồng anh Bùi Hữu Bí và chị Trần Thị Hương - thế hệ cư dân thứ hai
tại đặc khu Bạch Long Vĩ.
Anh Bí kể, những ngày đầu ra đảo, chỉ sau vài tuần, anh đã cảm thấy gắn bó như ở quê hương mình. Ở đây, người ta sống với nhau chân thành như một gia đình lớn. Một bữa cơm có thể chia sẻ, một mớ rau có thể mang cho nhau, một câu chuyện cũng đủ làm ấm lòng.
Cũng trong buổi tối hôm ấy, chúng tôi gặp cô giáo Nguyễn Thị Loan, người mới ra đảo nhận công tác sau Tết. Cô kể, khi nghe tin có đợt tuyển dụng, được người thân là thầy Bí động viên, cô đã quyết định thử sức. Để lại hai con nhỏ cho chồng chăm sóc, cô ra đảo với không ít âu lo. Nhưng chỉ sau một thời gian ngắn, cô đã cảm nhận được sự gắn bó rất tự nhiên với nơi này. “Ở đây, cái gì cũng thiếu, nhưng tình cảm thì không thiếu”, cô cười, ánh mắt ánh lên sự yên tâm.
Và những người như chị Phạm Thị Trang, tình nguyện ra đảo năm 2006, hay anh Nguyễn Văn Hường, người sinh ra trên đảo rồi quay trở lại lập nghiệp, đã tiếp nối hành trình của thế hệ đi trước. Họ không chỉ ở lại, mà còn xây dựng gia đình, nuôi dạy con cái, phát triển kinh tế, cùng nhau bước tới một vùng biển đảo giàu mạnh trong tương lai không xa.
Từ những gia đình như anh Bí - chị Hương, như chị Trang - anh Đốc, như anh Hường - chị Ngoan..., một thế hệ cư dân thứ hai đã tiếp nối xây dựng đảo. Đến nay, đảo đã có hơn 300 hộ dân với trên 700 nhân khẩu, ba khu dân cư ổn định. Trường tiểu học - mẫu giáo được thành lập từ năm 1999, giúp trẻ em có thể học tập tại chỗ trước khi tiếp tục hành trình vào đất liền.
Hơn ba mươi năm trôi qua, từ những bước chân đầu tiên của tuổi hai mươi, một giấc mơ đã dần thành hình. Một hòn đảo không chỉ có nhà cửa, đường sá, mà có cả ký ức, có tình yêu, có những thế hệ nối tiếp.
Và như thế, Bạch Long Vĩ không chỉ là một địa danh trên bản đồ, mà luôn là một phần máu thịt thiêng liêng. Nơi mỗi người dân là một “cột mốc sống”, giữ gìn chủ quyền bằng chính cuộc đời tận hiến, giản dị của mình.
Chiến lược phát triển kinh tế biển Bạch Long Vĩ
Ông Đào Minh Đông, Phó Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch UBND đặc khu Bạch Long Vĩ cho biết, giai đoạn 2025 - 2030, Bạch Long Vĩ xác định phát triển dựa trên ba trụ cột: hậu cần nghề cá; khai thác, nuôi trồng thủy sản; và du lịch trải nghiệm. Địa phương đang tập trung đầu tư hạ tầng cảng cá, âu cảng, đồng thời thúc đẩy du lịch và xây dựng thương hiệu OCOP cho các sản phẩm đặc trưng như bào ngư, mực.
Kết thúc quý I/2026, tổng giá trị sản phẩm các ngành ước đạt 132,22 tỷ đồng, đạt 20,9% kế hoạch năm và tăng 16% so với cùng kỳ. Trong đó, thương mại - dịch vụ tiếp tục giữ vai trò động lực, đạt khoảng 78,5 tỷ đồng (24,4% kế hoạch năm). Tổng mức bán lẻ hàng hóa ước đạt 14,5 tỷ đồng; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống đạt khoảng 2,3 tỷ đồng.
Nguồn Pháp Luật VN: https://baophapluat.vn/suc-song-bach-long-vi.html











