Sức sống mới của bảo tàng thông minh tại Việt Nam

Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đang tái định hình toàn diện các thiết chế văn hóa, trong đó có bảo tàng. Từ những không gian vốn bị đóng khung trong định kiến khô, tĩnh và phụ thuộc hoàn toàn vào thuyết minh trực tiếp, các bảo tàng tại Việt Nam đang nỗ lực chuyển mình mạnh mẽ nhờ làn sóng số hóa. Việc ứng dụng công nghệ không chỉ là giải pháp cấp thiết để nâng cao năng lực quản lý, bảo tồn di sản mà còn là chìa khóa xóa nhòa khoảng cách thế hệ, đưa lịch sử dân tộc chạm đến trái tim của công chúng hiện đại, nhất là giới trẻ.

Cú hích công nghệ thay áo mới cho di sản

Tại một góc trang trọng của Bảo tàng Côn Đảo, đặc khu Côn Đảo (TP Hồ Chí Minh), nhóm bạn trẻ đứng lặng người trước một tác phẩm nghệ thuật đặc biệt. Đó là bức chân dung thời trẻ của nữ cựu tù chính trị Côn Đảo Lê Tú Cẩm. Điều khiến người xem ngỡ ngàng là bức tranh không đơn thuần được vẽ bằng cọ hay màu nước mà được các nghệ nhân Đồng Tháp kỳ công chế tác từ những chiếc lá sen khô-biểu tượng cho sự thuần khiết và ý chí kiên cường chịu đựng mọi bão dông. Ít ai biết rằng, khởi nguồn của tác phẩm độc đáo này lại bắt đầu từ một file dữ liệu số hóa.

Bức ảnh tư liệu cũ kỹ, mờ phai theo năm tháng của bà Lê Tú Cẩm được phục dựng, số hóa sắc nét bằng công nghệ hiện đại, trở thành chất liệu để các nghệ nhân thổi hồn vào lá sen. Trong ngày đón nhận món quà này được trưng bày chính thức trong Triển lãm “Sen trong đá” (diễn ra từ ngày 12-5 đến hết tháng 7-2026 tại Bảo tàng Côn Đảo), người cựu tù chính trị năm xưa đã không giấu nổi những giọt nước mắt xúc động. Nhìn ngắm dung nhan thời thanh xuân rực rỡ của mình bước ra từ dòng chảy lịch sử, bà cảm nhận được tình cảm nồng ấm và sự tri ân sâu sắc mà thế hệ hôm nay dành cho những cống hiến, hy sinh của thế hệ đi trước.

Nữ cựu tù chính trị Lê Tú Cẩm xúc động ngắm tác phẩm chân dung của mình được số hóa phục dựng và chế tác từ lá sen trưng bày tại Bảo tàng Côn Đảo.

Nữ cựu tù chính trị Lê Tú Cẩm xúc động ngắm tác phẩm chân dung của mình được số hóa phục dựng và chế tác từ lá sen trưng bày tại Bảo tàng Côn Đảo.

Những lá thư thời chiến, chiếc máy đánh chữ cũ kỹ, những tư liệu, hình ảnh, hiện vật về nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình từ lúc dấn thân theo cách mạng, Hội nghị Paris đến cống hiến vì hòa bình và giáo dục sau năm 1975 trưng bày tại Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (số 36 phố Lý Thường Kiệt, phường Cửa Nam, TP Hà Nội) mang lại những mạch nguồn cảm xúc vô giá. Nếu chỉ trưng bày theo phương pháp truyền thống, khách tham quan khó lòng thấu cảm hết những tầng sâu bối cảnh và những dòng chữ viết tay mờ phai theo năm tháng. Nhưng khi được số hóa, các hiện vật “biết nói” này lập tức trở nên sống động, đặc biệt trong sự kết nối với Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh (TP Hồ Chí Minh)-nơi đồng thời lưu giữ khá nhiều tư liệu, hiện vật, hình ảnh về nguyên Phó chủ tịch nước Nguyễn Thị Bình, đã tạo ra không gian trưng bày sống động thông qua trình chiếu mapping, 3D... Cùng với đó, một không gian trải nghiệm công nghệ thực tế ảo tái hiện Hiệp định Paris giúp người xem được lắng sâu cảm xúc với câu chuyện về nhà ngoại giao kiệt xuất. Và ở đó, đằng sau bản lĩnh của một “bông hồng thép” trên bàn đàm phán Hiệp định Paris năm 1973 còn là một tâm hồn giàu trắc ẩn, luôn coi cuộc sống tình cảm thực sự là phần hết sức quý giá của đời mình. Thế giới tinh thần ấy được dệt nên từ những điểm tựa vững chắc: Lời dặn dò đầy bao dung của người cha hiền từ Nguyễn Đồng Hợi năm 1966: “Sa yêu mến... con an tâm làm nhiệm vụ...”; sự sẻ chia thầm lặng từ người bạn đời Đinh Khang khi vừa làm nghĩa vụ bộ đội, vừa thay vợ chăm sóc cha già, con thơ: “Anh tắm cho con và giặt quần áo vì con để lại nhiều”; hay những nét chữ ngộ nghĩnh của cô con gái 6 tuổi Đinh Thùy Mai: “Mẹ bận việc thì mẹ cố gắng ở lại đấy vài ngày làm việc cho tốt, nhớ mẹ”...

“Câu chuyện lay động ấy chính là minh chứng rõ nét nhất cho thấy: Khi công nghệ song hành cùng văn hóa, di sản sẽ có một sức sống mới mãnh liệt, chạm đến trái tim của công chúng hiện đại”, Giám đốc Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam Nguyễn Thị Tuyết chia sẻ.

Diện mạo mới của các bảo tàng thông minh tại Việt Nam

Nhìn rộng ra bức tranh toàn cảnh, xu hướng ứng dụng công nghệ đã và đang mang lại những cú hích doanh thu và lượng khách tham quan tăng trưởng vượt bậc tại nhiều đơn vị: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia là đơn vị tiên phong từ năm 2013 với công nghệ thực tế ảo 3D giới thiệu các trưng bày chuyên đề như “Di sản văn hóa Phật giáo Việt Nam”, “Đèn cổ Việt Nam” và hệ thống ảo 3D/360 độ giới thiệu 20 bảo vật quốc gia (năm 2021). Nhờ đa dạng hóa trải nghiệm trực tuyến và video clip chuyên đề, lượng truy cập website của Bảo tàng đã tăng trưởng ngoạn mục, từ 9 triệu lượt (năm 2019) vọt lên hơn 21 triệu lượt (năm 2024). Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nhờ tích cực triển khai các giải pháp đột phá như ứng dụng thuyết minh iMuseum VFA (ứng dụng đa phương tiện âm thanh, hình ảnh, lời dẫn), không gian triển lãm mỹ thuật trực tuyến AI, lượng khách tham quan trực tiếp đã tăng 200-300% mỗi năm. Bảo tàng Chứng tích chiến tranh và Bảo tàng Phụ nữ Nam Bộ sử dụng công nghệ 3D tái hiện 5 nhà tù lớn ở miền Nam Việt Nam, hoặc xây dựng các phòng trưng bày ứng dụng kios thông tin thông minh, cho phép người xem chủ động nhập vào tra cứu lịch sử một cách sinh động...

Đánh giá về bước chuyển mình này, ông Nguyễn Anh Minh, Giám đốc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam khẳng định: “Việc ứng dụng công nghệ số là xu hướng tất yếu trong hoạt động bảo tàng. Nó được coi như một phương tiện để thu hút công chúng, đặc biệt là giới trẻ quan tâm hơn tới bảo tàng, đến văn hóa và lịch sử dân tộc. Khi ứng dụng công nghệ, các hiện vật ở trạng thái tĩnh trở nên có câu chuyện hơn, tạo ra sự trải nghiệm sống động và tương tác, giúp người xem dễ dàng tiếp cận và hiểu sâu hơn về giá trị di sản”.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Anh Minh cũng chỉ ra những bài toán hóc búa mà ngành bảo tàng đang phải đối mặt khi bước vào sân chơi công nghệ. Trước hết là rào cản nhân lực và tài chính, hiện đội ngũ cán bộ nghiệp vụ hầu như thiếu vắng các chuyên gia công nghệ thông tin chuyên sâu, không thể tự xây dựng sản phẩm. Trong khi đó, chi phí đầu tư công nghệ vô cùng đắt đỏ (riêng một máy chiếu dùng cho công nghệ 3D mapping đã tốn hàng tỷ đồng), vượt quá khả năng kinh tế của phần lớn các bảo tàng. Ngoài ra, việc đưa hiện vật, tác phẩm lên không gian số cũng đối mặt với nhiều thách thức lớn về bảo vệ bản quyền. Thiếu cơ chế hợp tác công-tư, khuyến khích các đơn vị, cá nhân phối hợp đầu tư xã hội hóa cùng bảo tàng. Điều này khiến các dự án ứng dụng công nghệ số thiếu tính bền vững và khó nhân rộng hiệu quả.

Theo ông Phạm Định Phong, Phó cục trưởng Cục Di sản văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), xu hướng phát triển bảo tàng hiện nay là chuyển mạnh sang mô hình bảo tàng mở, bảo tàng sống, lấy công chúng làm trung tâm, tăng tính trải nghiệm, tương tác và kết nối cộng đồng. Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 4-4-2026 phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. Đây chính là điều kiện để hệ thống bảo tàng tiếp tục được đầu tư hiện đại hóa theo tiêu chuẩn quốc tế. “Số hóa không đồng nghĩa với việc thay thế bảo tàng thực, bởi chỉ khi trực tiếp chiêm ngưỡng những hiện vật gốc, công chúng mới có được những cảm xúc lịch sử chân thật nhất. Song, công nghệ là cầu nối kéo bảo tàng lại gần hơn với nhịp sống đương đại, đưa dòng chảy văn hóa và lịch sử dân tộc tiếp tục được gìn giữ, trao truyền trọn vẹn cho thế hệ mai sau”, ông Phạm Định Phong cho hay.

VƯƠNG HÀ

Nguồn QĐND: https://www.qdnd.vn/van-hoa/doi-song/suc-song-moi-cua-bao-tang-thong-minh-tai-viet-nam-1042074